Chùa Pháp Bảo Sư Bửu Hiền

Khóa học

Kênh Youtube

Tài liệu

Lễ Vesak 2567

  1. KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ VESAK 2567

↑ trở lên

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ VESAK 2567

Đối với người tín đồ Phật giáo, Vesak là một ngày lễ quan trọng bậc nhất trong năm.
Ngày lễ được gọi theo ngôn ngữ Pāli là Vesākha, theo tiếng Sanskrit là Vaiśākha.
Đôi khi lễ Vesak cũng được gọi là Buddha Jayanti hay Buddha Day.
Đại Lễ Vesak là ngày lễ để tất cả người con Phật kỷ niệm các sự kiện lịch sử từ thời Chư Phật trong quá khứ, cho đến thời Đức Phật trong hiện tại, cùng với những sự kiện lịch sử kết nối hai đất nước Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Sri Lanka.
Theo các tập biên niên sử Sri Lanka, Đại Lễ Vesak đã được tổ chức lần đầu tiên ở đảo quốc Sri Lanka vào thời Đức Vua Duṭṭhagāmanī, khoảng niên đại 101-72 trước công nguyên.
Nghĩa là lịch sử của Đại Lễ Vesak đã trải qua hơn 2000 năm!
Vào thời hiện đại, chính xác là năm 1999, tổ chức quốc tế Liên Hiệp Quốc đã công nhận tính toàn cầu của Đại Lễ Vesak.
Ngày hôm nay, Đại Lễ Vesak không những chỉ tổ chức long trọng tại các quốc gia theo Phật giáo mà đã trở thành một lễ hội lớn cho toàn thể nhân loại.
Đại Lễ Vesak là ngày Đại Lễ Tam Hợp, kỷ niệm ngày Đức Bồ Tát đản sanh, Đức Bồ Tát thành đạo và Đức Phật viên tịch Niết Bàn.
Hướng đến kỷ niệm Đại Lễ Vesak 2567, chúng tôi biên dịch lại bài viết: “The Buddha and His Message” của Bhikkhu Bodhi, thuyết trình tại văn phòng Liên Hiệp Quốc trong ngày Đại Lễ Vesak, vào năm 2000.

BỨC THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC THẾ TÔN

Bhikkhu Bodhi đã bắt đầu bài thuyết trình với những dòng dẫn nhập như sau:
Từ thế kỷ thứ V trước công nguyên, Đức Thế Tôn đã trở thành một biểu tượng của nguồn ánh sáng nhiệm mầu cho toàn cõi Á Châu (The Light of Asia).
Kể từ thời điểm lịch sử đó, lời dạy của Ngài đã được truyền bá rộng rãi trên một vùng đất rộng lớn, trải dài từ thung lũng Kabul cho đến xứ sở Nhật Bản, từ quốc đảo Sri Lanka cho tới miền đất lạnh giá Siberia.
Nhân cách cao thượng của Đức Thế Tôn đã định hình nên nếp sống với các lý tưởng nhân văn và nền tảng đạo đức cao quý, đã tạo nên một truyền thống tâm linh năng động giúp nâng cao đời sống cho biết bao người.
Dung nhan khả ái và nụ cười hiền hòa của Đức Thế Tôn đã là nguồn cảm hứng cho nhiều thành tựu nổi bật trong các lĩnh vực nghệ thuật như văn chương, hội họa, kiến trúc và điêu khắc.
Ngày hôm nay, đạo Phật được biết đến trên toàn thế giới, đã có rất nhiều người tự nguyện trở thành Phật tử. Một tôn giáo phương Đông bắt đầu tạo ảnh hưởng lên văn hóa phương Tây.
Trên bình diện quốc tế, hằng năm tổ chức Liên Hiệp Quốc đã dành riêng một ngày, the United Nations Vesak Day, để tôn vinh một bậc đạo sư với lòng từ bi và trí huệ sâu rộng, một bậc thầy tâm linh của hàng triệu triệu con người.



ĐỨC BỒ TÁT ĐẢN SANH

Ý nghĩa thứ nhất của Đại Lễ Vesak là sự kiện Đức Bồ Tát đản sanh (Jātaṭṭhāna).
Đức Bồ Tát giáng sanh vào ngày rằm tháng tư năm 623 trước công nguyên, tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), nơi ngoại ô thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), ngày nay thuộc xứ sở Nepal.
Hạnh phúc thay, Chư Phật giáng sanh!
Thế gian nầy trở nên hạnh phúc hơn biết bao khi có một vị Phật ra đời!
Tìm hiểu ý nghĩa Đại Lễ Vesak, trước hết chúng ta hãy cùng nhau trả lời câu hỏi: Đức Phật là ai?
ĐỨC PHẬT hay BUDDHA không phải là danh từ riêng mà là một danh hiệu tôn kính, có nghĩa là bậc giác ngộ (the Enlightened One, the Awakened One).
BUDDHA là danh hiệu để tôn vinh nhà hiền triết Siddhartha Gautama, người đã sinh ra và truyền đạo ở miền đông bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ V trước công nguyên.
Đức Phật Gautama là vị đã sáng lập nên truyền thống tâm linh, được gọi là Phật giáo (Buddhism).
Từ “Buddha” là danh hiệu cao quý để tôn vinh bậc giác ngộ xuất hiện trong một thời kỳ lịch sử nhất định.
Đức Phật Gautama là một vị Phật giống như bao vị Phật khác đã có mặt trong quá khứ, và rất nhiều vị Phật nữa sẽ xuất hiện ở tương lai.
Theo vũ trụ quan Phật giáo, không thể nào tìm ra điểm khởi đầu của thế giới, thời điểm mà càn khôn vũ trụ được tạo dựng nên.
Qua dòng chảy vô tận của thời gian, nhiều hệ thống vũ trụ phát sanh lên, tiến hóa, rồi đi đến hoại diệt. Ngay sau đó, một hệ thống vũ trụ mới lại tiếp tục chu kỳ của thành, trụ, hoại, không.
Trên mặt đại dương mênh mông, từng đợt sóng lũ lượt kéo vào bờ, hết đợt sóng nầy lại tới đợt sóng khác; sự vận hành của vũ trụ bao la có thể so sánh với dòng di chuyển của các đợt sóng bất tận.
Trong mỗi hệ thống vũ trụ bao la như vậy, có vô số cảnh giới là nơi sinh sống của các loài chúng sanh hữu tình.
Một cách cụ thể, chúng ta quan sát thấy có cảnh giới của loài người, loài vật.
Có các cõi trời của các vị Chư Thiên với đầy đủ phúc lạc; tuy nhiên, bên cạnh đó có nhiều cảnh giới mà chúng sanh đang sống trong đau khổ triền miên.
Lần lượt, các loài chúng sanh hữu tình đi từ kiếp sống nầy đến kiếp sống khác theo một chu trình khép kín, được gọi là saṃsāra: vòng luân hồi có nghĩa là chuyến đi vô định.
Nguồn động lực tạo nên saṃsāra hay vòng luân hồi chính là vô minh và ái dục.
Các cảnh giới tái sanh được quy định bởi nghiệp lực của chúng ta. Nghiệp lực là những hành động tốt hoặc xấu, được tạo nên bởi hành động, lời nói và suy nghĩ.
Theo một quy luật khách quan, nghiệp lực tốt đem lại cảnh giới tái sanh hạnh phúc, nghiệp lực xấu dẫn dắt chúng sanh vào các cõi khổ.
Đời sống trong mọi cảnh giới đều vô thường, biến đổi; tất cả đều phải trải qua các giai đoạn già, bệnh và chết.
Ngay cả đến hạnh phúc ở các cõi trời cũng không thể tồn tại mãi mãi.
Mỗi kiếp sống đều phải đi đến hồi kết, tiếp ngay sau đó là kiếp sống khác ở một cảnh giới mới.
Không thể tìm ra ở bất kỳ nơi đâu trong vòng sanh tử luân hồi một nơi an toàn và hạnh phúc thật sự!
Tuy nhiên, bên ngoài cảnh giới của sanh tử, có một trạng thái hạnh phúc giải thoát, một trạng thái an tịnh bậc nhất mà chúng ta có thể thành đạt ở đây và ngay bây giờ chính trong kiếp sống nầy.
Trạng thái đó được gọi là Niết Bàn (Pāli: Nibbāna, Sanskrit: Nirvana) có nghĩa là thổi tắt ngọn lửa tham lam, sân hận và si mê.
Có sự thực hành, có con đường dẫn dắt chúng sanh đi từ khổ đau luân hồi đến hạnh phúc Niết Bàn; đi từ ràng buộc của tham ái và vô minh cho đến nơi tự do, giải thoát hoàn toàn.
Trải qua khoảng thời gian rất lâu, con đường giải thoát dần rơi vào quên lãng. Mọi người không còn tìm ra dấu vết của con đường đi về Niết Bàn được nữa.
Thật là lợi ích, thật là may mắn, thật là hạnh phúc cho tất cả chúng sanh khi có một nhân vật cao quý đã tìm lại được con đường xa xưa.
Bậc chân nhân đó đã đi trên con đường chân chánh, đã thông suốt chân lý tối thượng, và giảng dạy cho tất cả chúng sanh để mỗi người đều có thể giác ngộ như Ngài.
Bậc chân nhân thánh thiện đó không ai khác hơn chính là Đức Phật của chúng ta.
Đức Phật là bậc giác ngộ, là bậc thầy vô thượng của toàn thể thế gian. Sứ mệnh của một vị Phật là tìm lại con đường giải thoát đã bị mất dấu từ rất lâu.
Đức Phật không phải là người duy nhất chứng đắc Niết Bàn. Những ai kiên trì đi trên con đường chánh đạo sẽ thành tựu cùng một mục tiêu.
Các bậc cao quý đó là chư vị thánh nhân A La Hán, bậc Ứng Cúng.
Đức Phật xuất hiện trên thế gian để giảng dạy Giáo Pháp, đồng thời thành lập Tăng đoàn nhằm gìn giữ và truyền trao lời dạy cho các thế hệ mai sau.
Trong giai đoạn Giáo Pháp còn thịnh hành, những ai chịu khó học hỏi và thực hành đúng theo lời dạy của Đức Thế Tôn, chắc chắn vị hành giả ấy sẽ thành đạt như ý nguyện.
Quả vị Phật Tổ là thành quả của quá trình tu tập trải qua biết bao kiếp sống, trong quãng thời gian dường như là vô tận, được biết đến là hàng A tăng kỳ kiếp (Asaṅkheyya kappa).
Một vị Phật tương lai được gọi với danh xưng là Đức Bồ Tát (Bodhisatta), hay giác hữu tình, nghĩa là chúng sanh có hạt giống giác ngộ.
Thông qua mỗi kiếp sống, vị Bồ Tát với chí nguyện rộng lớn sẽ trau dồi, vun bồi các phẩm chất chủ yếu của một vị Phật.
Một vị Bồ Tát cần phải thành tựu tất cả phẩm chất về đạo đức và tâm linh ở mức độ cao nhất.
Các phẩm chất đó được gọi là các pháp Ba la mật (Pāramitā), các phẩm chất siêu việt hay đức tính hoàn hảo (transcendent virtues or perfections).
Theo truyền thống Phật giáo Theravāda, có mười pháp Ba la mật là bố thí, trì giới, xuất gia, trí huệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết tâm, tâm từ và tâm xã.
Điều giúp cho một vị Bồ Tát luôn kiên trì trên con đường theo đuổi hạnh nguyện tự giác, giác tha chính là lòng mong mỏi cho tất cả chúng sanh đều đạt đến cảnh giới Bất Tử.
Lòng quyết tâm đó được nuôi dưỡng bởi tình thương sâu rộng, lòng bi mẫn vô biên đối với biết bao chúng sanh đang trầm luân nơi sông mê, bể khổ.
Nhân cách của một vị Phật là sự hoàn thiện các pháp Ba la mật.
Giống như một viên kim cương được mài giũa đến độ tinh vi, hoàn hảo, phẩm chất cao quý của Ngài được thể hiện đầy đủ qua các pháp Pāramitā.
Sự ra đời của một vị Phật mang lại sự hoan hỷ, niềm vui, điều lợi ích không gì có thể sánh bằng, là niềm hạnh phúc vĩnh hằng cho chúng sanh vạn loài hữu tình.
Tất cả người con Phật chúng ta kỷ niệm Đại Lễ Vesak để luôn tưởng nhớ đến Bậc Đạo Sư vô thượng, đã giảng dạy cho toàn thể thế gian con đường dẫn đến an tịnh và hạnh phúc cao thượng.

ĐỨC BỒ TÁT THÀNH ĐẠO

Ý nghĩa thứ hai của Đại Lễ Vesak là sự kiện Đức Bồ Tát thành đạo (Abhisambuddhaṭṭhāna).
Một vị Phật tương lai Siddhartha Gautama đã giáng sanh ở nước cộng hòa Sakyan, gần dãy núi Hy mã lạp sơn, vùng đất thuộc miền nam Nepal ngày nay.
Mặc dầu chúng ta không thể biết chính xác niên đại của Đức Phật nhưng nhiều học giả tin rằng Ngài đã sống vào khoảng năm 563 cho đến năm 483 trước công nguyên.
Thân phụ của Đức Bồ Tát là Đức Vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương), thân mẫu là Hoàng Hậu Maha Māyā.
Đức Vua Tịnh Phạn đặt tên cho Thái Tử là Siddhartha (Sĩ Đạt Ta), có nghĩa là người thành tựu mọi ý nguyện.
Thái Tử Siddhartha trưởng thành trong nhung lụa của một bậc quân vương.
Năm 16 tuổi, Thái Tử Siddhartha kết hôn với Công Chúa Yasodhara (Da Du Đà La), cả hai vị hoàng thân có với nhau một người con trai tên là Rahula (La Hầu La).
Càng trưởng thành, Thái Tử Siddhartha suy tư nhiều hơn về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống.
Có phải chúng ta sống trên cuộc đời chỉ để hưởng thụ dục lạc, hay để mưu cầu tài sản, quyền lực, địa vị trong xã hội?
Hay còn có một điều gì khác tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn?
Để giải đáp cho bao nhiêu câu hỏi, vào năm 29 tuổi Thái Tử Siddhartha đã rời bỏ hoàng cung, đi xuất gia tầm chân lý.
Trong giai đoạn thanh xuân của cuộc đời, Thái Tử đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, xuất gia sống đời sống không gia đình, tìm một con đường để thoát ly khỏi sanh, già, bệnh, chết, phiền não và ô nhiễm.
Ròng rã trong sáu năm, đạo sĩ Siddhartha đi khắp miền thung lũng sông Hằng, gặp gỡ các vị thầy danh tiếng nhất, học hỏi nhiều phương pháp thiền định, và tự ghép mình vào phép tu khổ hạnh rất nghiêm ngặt.
Nhưng sau đó đạo sĩ nhận thức rõ những lời dạy của các vị thầy đương đại không giúp cho vị ấy thành đạt mục tiêu của việc xuất gia.
Nên Ngài đã từ bỏ giáo lý và phương pháp truyền thống để đi theo con đường của riêng mình.
Đó là con đường trung đạo (the middle way) bởi vì con đường nầy tránh xa hai nếp sống cực đoan là lợi dưỡng và khổ hạnh.
Một ngày nọ, sau đã thọ thực lại bình thường và sức khỏe được phục hồi nhanh chóng, bậc chân nhân đi đến bên bờ sông Nerañjarā, gần thị trấn Gaya.
Bên quang cảnh hữu tình, dưới cội cây Assatha, còn gọi là cội đại thọ Bồ Đề (The Bodhi Tree), ở địa phận Bodh Gaya thuộc bang Bihar ngày nay, Đức Bồ Tát ngồi kiết già và phát lời đại nguyện là sẽ không rời khỏi chỗ ngồi cho đến khi thành đạo.
Thế rồi vào canh đầu tiên của đêm rằm, Đức Bồ Tát an trú sâu trong thiền định.
Với một nội tâm an tịnh và vắng lặng, Ngài đã nhớ lại được nhiều kiếp sống của chính mình trong quá khứ, túc mạng minh.
Vào canh thứ hai, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ngài chứng kiến lộ trình sanh tử của chúng sanh trải dài theo nghiệp lực, sanh tử minh.
Và đến canh cuối cùng, Ngài chứng đắc chân lý sâu xa của kiếp sống hiện hữu, lậu tận minh.
Khi bình minh vừa ló dạng, vị hành giả ngồi dưới cội Bồ Đề không còn là Bồ Tát nữa mà đã trở thành một vị Phật, Bậc Giác Ngộ viên mãn.
Bậc thánh giả đã xua tan bóng đêm dày đặc của vô minh, và đạt đến pháp Bất Tử ngay chính trên kiếp sống nầy.
Sự kiện hy hữu vị tằng hữu đã diễn ra đúng vào ngày trăng tròn tháng Vesak.
Nhiều tuần sau đó (bảy tuần lễ), Đức Phật vẫn lưu lại xung quanh khuôn viên của cội cây Bồ Đề, để chiêm nghiệm sâu xa chân lý mà Ngài vừa chứng ngộ.
Với Phật nhãn, Ngài quan sát khắp cả thế gian.
Vì lòng bi mẫn đối với phần đông chúng sanh còn chìm đắm trong bóng tối vô minh, nên Đức Thế Tôn quyết định lên đường truyền bá Chánh Pháp.
Thể hiện hạnh nguyện giác tha, Đức Thế Tôn bắt đầu giảng dạy trong suốt bốn mươi lăm năm.
Ngài tiếp xúc với rất nhiều vị quân vương, các vị Bà la môn, thường dân, và cả những người dân ở giai cấp thấp, đủ mọi tầng lớp trong xã hội Ấn Độ.
Đức Thế Tôn thuyết giảng nhiều đề tài khác nhau để thích ứng với nhiều căn cơ và hoàn cảnh của thính chúng, để giúp cho tất cả đều tiến bộ trong đời sống đạo đức và tâm linh.
Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ. Đức Thế Tôn giảng dạy Giáo Pháp để giúp cho chúng sanh được giác ngộ như Ngài.
Giáo Pháp hướng đến một mục tiêu rõ ràng và thực tiễn. Đó là hạnh phúc trong đời sống hiện tại, hạnh phúc trong đời sống vị lai, và hạnh phúc cao thượng là Niết Bàn.
Càng ngày số lượng theo thọ giáo với Đức Thầy ngày càng đông, bao gồm cả bậc xuất gia và người tại gia cư sĩ.
Sau đó, Đức Thế Tôn đã thành lập Giáo Hội của các vị Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, để gìn giữ và truyền bá Chánh Pháp.
Giáo Hội vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay, và được xem là Giáo Hội lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại.
Tất cả người con Phật chúng ta kỷ niệm Đại Lễ Vesak để đón mừng ngày mà ánh sáng của Giáo Pháp tỏa rạng trên thế gian, đem lại hạnh phúc và an lành cho tất cả.

MỤC TIÊU CỦA GIÁO PHÁP

Khi học hỏi Giáo Pháp, người Phật tử đặc biệt chú ý đến hai điều cơ bản.
Đó là mục tiêu và phương pháp học trong lời dạy của Đức Thế Tôn.
Trước tiên, chúng ta tìm hiểu về mục tiêu của Giáo Pháp.
Lời dạy của Đức Thế Tôn trực tiếp hướng tới một vấn đề cấp thiết nhất của nhân loại.
Đó là sự khổ đau bàng bạc trong cuộc sống
Nhưng lời giáo huấn của Ngài không dựa trên những mẩu chuyện thần thoại hay các yếu tố thần linh.
Đức Thế Tôn nhấn mạnh những ai thực hành đúng đắn theo lời dạy của Ngài sẽ thành đạt ở nơi đây và ngay bây giờ trạng thái an tịnh và hạnh phúc cao thượng.
Ngài lại nói rõ hơn các nội dung thường thấy trong tôn giáo như nghi lễ thờ cúng, giáo điều, quan điểm siêu hình đều không thể giúp cho tâm thức của chúng sanh giải thoát khỏi ô nhiễm và ràng buộc.
Giáo lý tinh hoa của đạo Phật là chân lý Tứ Diệu Đế.
Đó là sự thật cao thượng về khổ đau.
Sự thật cao thượng về nguyên nhân của khổ đau.
Sự thật cao thượng về chấm dứt khổ đau.
Và sự thật cao thượng về con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau.
Trọng tâm trong lời dạy của Đức Thế Tôn là nỗi khổ, niềm đau của tất cả chúng sanh.
Đặc biệt là Ngài tiếp cận vấn đề theo quan điểm tâm lý học trong Phật giáo.
Đức Thế Tôn truy tìm tận gốc rễ của khổ đau ở ngay trong nội tâm của chúng ta. Đó là tham ái, chấp thủ và vô minh.
Do khổ đau sanh khởi từ nơi nội tâm nên phương thức trị liệu phải bắt đầu từ đó, chớ không ở nơi nào khác.
Với tuệ quán như thật đối với vạn pháp, vị hành giả có thể đoạn trừ mọi phiền não và vô minh.
Thế gian pháp là tâm thức chưa giác ngộ, là nội tâm đầy dẫy phiền não, lo sợ và sầu muộn.
Phật pháp là tâm linh giác ngộ, là nội tâm tỉnh thức, an lạc và hạnh phúc.
Con đường đi từ thế gian pháp trở về với Phật pháp là con đường Bát Chánh Đạo.
Con đường Bát Chánh Đạo bao gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Dấn bước trên con đường về lại bờ giác, người con Phật sẽ thành đạt trí huệ tuyệt hảo và nội tâm giải thoát không còn dao động.

PHƯƠNG PHÁP HỌC TRONG PHẬT PHÁP

Đặc điểm nổi bật trong cách dạy đạo của Đức Thế Tôn là luôn tiệm cận với mục tiêu.
Nội dung của Giáo Pháp có liên hệ nhiều đến tâm lý học.
Giáo lý trong nhà Phật luôn nhấn mạnh đến tính tự lực (self-reliance), bởi vì sự thành công trong cuộc sống không đến từ thái độ ỷ lại nơi người khác.
Chìa khóa mở ra cánh cửa Bất Tử là tâm thanh tịnh và sự hiểu biết đúng đắn.
Trí huệ là năng lực tinh thần quan trọng bậc nhất trong quá trình tu tập.
Do đó, Đức Thế Tôn luôn khuyến khích các đệ tử tu học bằng chính sự hiểu biết của họ, hãy tìm hiểu lời dạy của người thầy dưới ánh sáng của suy luận và trí huệ.
Giáo Pháp là để được trải nghiệm, lời dạy phải được quán xét và thực hành theo, chớ không phải là giáo điều để tin tưởng.
Khi người đệ tử chuyên cần hành trì theo lời dạy của bậc thầy, vị ấy sẽ cảm nhận được hỷ lạc và an tịnh. Sự hạnh phúc sẽ tăng dần theo mức độ thực hành.
Nét đặc trưng trong Giáo Pháp là sự trong sáng.
Lời dạy của Đức Thế Tôn luôn súc tích, rộng mở, đơn giản nhưng thâm sâu.
Đó là sự kết hợp giữa nếp sống đạo đức và nhãn quan thông suốt mọi diễn biến trong đời sống thường ngày.
Mỗi bước đi vững vàng trên chánh đạo sẽ giúp cho người hành giả ngày càng tiến bộ, ngày càng gần với mục tiêu hơn.
Đức Thế Tôn mở rộng cánh cửa giải thoát cho tất cả mọi người, đến mọi tầng lớp trong xã hội thời Ấn Độ cổ đại.
Lời dạy của Đức Thế Tôn không chỉ dành riêng cho giới tu sĩ mà còn là lời chỉ dẫn cần thiết cho hàng tại gia cư sĩ, những người sống đời sống gia đình và có nhiều trách nhiệm trong xã hội.
Nếp sống đạo đức căn bản của người thiện nam, tín nữ là pháp ngũ giới (the Five Precepts).
Bên cạnh đó, mỗi thành viên cần phải làm thật tốt bổn phận của mình trong các mối quan hệ xã hội, như quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ giữa thầy và trò v.v….
Như một cơn mưa lớn đem lại sự mát mẻ, sức sống cho muôn loài vạn vật, lời dạy của Đấng Từ Phụ đem lại sự lợi ích, an lành và hạnh phúc cho tất cả.

ĐỨC PHẬT VIÊN TỊCH NIẾT BÀN

Một ý nghĩa quan trọng khác của Đại Lễ Vesak là sự kiện Đức Phật viên tịch Niết Bàn (Parinibbānaṭṭhāna).
Sau khoảng thời gian bốn mươi lăm năm hoằng dương Chánh Pháp, Đức Thế Tôn nhận thấy sứ mệnh của Ngài nơi thế gian đã thập phần viên mãn.
Thế nên, lúc năm tám mươi tuổi thọ, Đức Thế Tôn đã an nhiên viên tịch Niết Bàn nơi khu vườn Sala, gần thành Kusinara, nay là bang Uttar Pradesh, vào năm 543 trước Công Nguyên.
Trước giờ phút viên tịch, Đức Thế Tôn có lời nhắc nhở sau khi Ngài Niết Bàn, Pháp và Luật mà Đức Như Lai đã giảng dạy chính là người thầy hướng đạo cho tất cả đệ tử.
Để ngăn bớt giọt lệ sầu thương của hàng tứ chúng đệ tử, Đức Thế Tôn giảng dạy trạng thái vô thường luôn chi phối các pháp hữu vi, trong đó bao gồm cả sắc thân tứ đại của Ngài.
Những gì được sanh ra, được kết hợp, chịu sự biến đổi, làm thế nào có thể không tan rã, làm sao có thể không hoại diệt? Điều đó sẽ không bao giờ có!
Trước giờ đi xa, Đức Thế Tôn có lời dặn dò đến toàn thể hội chúng:
“Các con hãy xây dựng hòn đảo cho chính mình, hãy nương tựa nơi chính mình, đừng nương tựa vào bất cứ điều gì khác.
Hãy lấy Chánh Pháp làm hòn đảo cho chính mình, hãy lấy Chánh Pháp làm nơi nương tựa cho chính mình, đừng nương tựa vào bất cứ điều gì khác.
Sau khi Như Lai viên tịch, những ai xây dựng được hòn đảo cho chính mình, nương tựa được nơi chính mình, không nương tựa vào bất cứ điều gì khác;
Những ai biết lấy Chánh Pháp làm hòn đảo, lấy Chánh Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào bất cứ điều gì khác, chư vị ấy là những đệ tử ưu tú bậc nhất trong đạo tràng của Như Lai”, (Kinh Mahāparinibbāna Sutta).
Chúng ta hãy đọc đi, đọc lại lời giáo huấn vàng ngọc của Đức Thế Tôn, ghi sâu vào trong tâm, và đừng bao giờ lãng quên giá trị cao quý vô vàn của Pháp Bảo.

DÒNG CHẢY LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

Ba tháng ngay sau khi Đức Thế Tôn viên tịch, năm trăm vị đại đệ tử đã tổ chức một hội nghị ở thành Rājagaha để trùng tuyên toàn bộ lời dạy của Đức Thầy.
Kỳ kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất đã định hình nên nguồn giáo lý nguyên thủy truyền thừa lại cho các thế hệ mai sau.
Trong khoảng hai thế kỷ tiếp theo, lời dạy của Đức Thế Tôn dần dần được truyền bá rộng rãi, tuy nhiên tầm ảnh hưởng chỉ giới hạn ở vùng đông bắc Ấn Độ.
Sang đến thế kỷ thứ III trước công nguyên, một sự kiện lịch sử đã thay đổi diện mạo của Phật giáo.
Đại Đế Asoka, vị hoàng đế thứ ba thuộc triều đại Mauryan, sau nhiều năm chinh chiến gây ra biết bao tang tóc, đã quăng bỏ ngọn gươm chinh phạt để nắm lấy cây quyền trượng Chánh Pháp.
Vị quân vương nhận thức rõ Pháp (Dharma) chính là nguồn động lực xây dựng nên đời sống hạnh phúc, thịnh vượng dựa trên nền tảng công bằng chánh trực, thay vì là sức mạnh bạo lực.
Tư tưởng cấp tiến đó đã được khắc ghi lên các bia đá, rồi được dựng lên trên khắp vương quốc rộng lớn Magadha.
Các trụ đá nổi tiếng về sau được biết đến là các trụ đá A Dục Vương (Asoka Edicts).
Dưới sự bảo trợ của Hoàng Đế Asoka, hội đồng Chư Tăng bao gồm các bậc thánh nhân A La Hán cao quý đã tổ chức một hội nghị kết tập kinh điển lần thứ ba, tại đô thị Pātaliputta.
Sau hội nghị kết tập kinh điển Phật giáo, các bậc tôn túc lãnh đạo Giáo Hội bắt đầu gởi nhiều phái đoàn truyền giáo đi khắp lãnh thổ Ấn Độ và đi sang các nước lân bang.
Chính thức vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, đạo Phật đã vươn mình trở thành một tôn giáo thế giới (a world religion).
Kể từ đó, Phật giáo đã lan truyền một cách êm thắm khắp tiểu lục địa Ấn Độ, rồi được truyền bá rộng khắp vùng châu Á.
Mang bức thông điệp từ bi và trí huệ đến miền đất mới và tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau, các nhà truyền giáo đã linh động, uyển chuyển để hòa nhập với nếp sống, phong tục, tín ngưỡng của người dân bản xứ.
Lúc bấy giờ nơi quê hương Ấn Độ, đạo Phật chuyển mình phát triển theo ba giai đoạn, hình thành nên ba mô hình Phật giáo thịnh hành cho đến ngày hôm nay.
Giai đoạn thứ nhất chứng kiến sự cách tân trong lời dạy nguyên thủy và sự phân hóa Giáo Hội thành mười tám (18) bộ phái Phật giáo.
Mỗi bộ phái Phật giáo chỉ khác biệt nhau về các quan điểm giáo lý.
Tuy nhiên, trong số mười tám bộ phái chỉ duy nhất Phật giáo Theravāda còn tồn tại cho đến thời hiện đại.
Phật giáo Theravāda đã sớm được truyền bá sang đảo quốc Sri Lanka và các nước trong vùng Đông Nam Á.
Ngày nay, Phật giáo Theravāda trở nên thịnh hành ở các quốc gia như Sri Lanka, Myanmar, Thailand, Cambodia và Lào.
Sang giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ thế kỷ thứ I trước công nguyên, một hình thức Phật giáo mới được hình thành.
Đó là Phật giáo Mahāyana. Các vị theo tư tưởng Phật giáo Mahāyana đề cao lý tưởng của một vị Bồ Tát, the Bodhisattva.
Liên hệ đến giáo lý cốt lõi, chư vị nhấn mạnh đến tánh không shunyata, nguyên lý tối hậu của vạn pháp.
Sau đó, Phật giáo Mahāyana được du nhập vào China, rồi đến Việt Nam, Korea và Nhật Bản.
Đến giai đoạn thứ ba, vào khoảng thế kỷ thứ VIII sau công nguyên, đạo Phật phát sanh thêm một trường phái khác nữa.
Đó là Phật giáo Vajrayana, Kim Cang Thừa. Phật giáo Kim Cang Thừa chủ yếu dựa trên các kinh điển huyền bí được gọi là Tantras.
Phật giáo Vajrayana tiếp thu các quan điểm giáo lý chính yếu từ Phật giáo Mahāyana, đồng thời bổ sung thêm các hình thức lễ nghi, chú thuật.
Phật giáo Vajrayana tiếp theo được lan tỏa rộng khắp ở vùng bắc Ấn Độ, cho đến Nepal, Tibet và các khu vực ở dãy núi Himalaya.
Ngày nay, Phật giáo Vajrayana thường được biết đến là Tibetan Buddhism, Phật giáo Tây Tạng.
Đặc điểm nổi bật nhất xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển là đạo Phật không ngừng được truyền bá bằng gương lành và lời dạy, chớ không bằng vũ lực.
Các nhà sư Phật giáo truyền đạo không phải là đi cải đạo người tín đồ của tôn giáo khác, mà là soi sáng con đường đem lại hạnh phúc và bình an cho nhân gian.
Khi tiếp xúc với nền văn hóa mới thì phương tiện và phong cách của đạo Phật sẽ được sửa đổi để phù hợp với tâm lý của người dân địa phương.
Tuy nhiên, việc thay đổi đó vẫn không hề ảnh hưởng đến tinh hoa nơi tôn giáo của từ bi và trí huệ.
Một khi đạo Phật được du nhập vào miền đất mới, người dân ở xứ sở đó không chỉ tiếp thu một tôn giáo mới mà cả nguồn cảm hứng bất tận tạo nên nhiều thành tựu lớn về triết học, văn học, hội họa, kiến trúc, điêu khắc v.v….
Có thể nói lời dạy của Đức Thế Tôn đã tạo nên ảnh hưởng sâu rộng về nhiều mặt trong đời sống xã hội của người dân bản xứ, từ văn hóa, giáo dục, đạo đức, phong tục, thẩm mỹ.
Thật là còn quá sớm để nêu lên dự đoán về sự phát triển của đạo Phật ở các nước phương Tây trong thời kỳ hiện đại.
Tuy nhiên, đạo Phật đã đến đây, tạo nên sự giao thoa và tương tác nhiều mặt với văn hóa phương Tây.
Đến đây chúng ta hãy cùng nhau đọc phần kết luận bài thuyết trình của Bhikkhu Bodhi với tiêu đề:
BỨC THÔNG ĐIỆP TÌNH THƯƠNG DÀNH CHO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại chứng kiến sự phát triển vượt bậc về khoa học và kỹ thuật.
Sự phát triển đó góp phần nâng cao đời sống con người về mọi mặt.
Tuy nhiên, tất cả chúng ta hiện đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề mang tính toàn cầu.
Đó là sự xung đột về sắc tộc và tôn giáo, là hố sâu ngăn cách giàu nghèo, là sự khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, là sự phá hủy môi trường sống trên quy mô rộng lớn.
Toàn thế giới trở nên rối loạn và bất an bởi vì tâm thức của chúng sanh trong thời đại mới không còn an được nữa!
Chúng ta hãy can đảm nhìn thẳng vào vấn đề, và cố gắng tìm ra nguyên nhân sâu xa nằm ở nơi đâu?
Cội nguồn sâu xa của khổ đau kiếp người chính là ba gốc rễ của ác pháp: tham lam, sân hận và si mê.
Do lòng tham chi phối, thế giới tươi đẹp bỗng trở nên một thị trường mênh mông mà ở đó thân phận con người chỉ đơn thuần là người tiêu dùng, thậm chí còn trở thành món hàng hóa.
Ảnh hưởng bởi tâm lý sân hận, sự khác biệt về quốc gia và sắc tộc đã châm ngòi cho bạo lực, tạo nên vòng xoáy bất tận của hận thù.
Tâm si mê, điên đảo luôn gieo rắc cuồng tín và gây nên làn sóng đấu tranh ý thức hệ.
Trên bình diện quốc tế, bên cạnh các sự thay đổi chính sách cần thiết để ứng phó với cơn khủng hoảng dài hạn, con người thời đại cần phải có định hướng sáng suốt từ nơi tôn giáo.
Phật giáo đã cung ứng giải pháp khả thi nào cho các vấn đề của xã hội ngày hôm nay?
Trước các vấn nạn của thời đại, lời dạy của Đức Thế Tôn đã gợi mở cho con người hiện đại sự hướng dẫn cần thiết như thế nào?
Điều quan trọng nhất là phải có một phương thức tư duy mới.
Chúng ta nên có suy nghĩ những biểu hiện nơi người khác cũng chính là sự phản ánh của chúng ta.
Không nên chỉ biết có lợi ích cho riêng bản thân. Hãy nghĩ rằng phúc lợi cho số đông cũng là phúc lợi dành cho mỗi cá nhân.
Hãy ngừng ngay thói quen tự cho mình là trung tâm của vũ trụ mà hãy nghĩ rằng lợi ích chung cho toàn xã hội phải là điều ưu tiên hàng đầu.

Một tư duy mới được định hình theo ba nguyên tắc như sau:

1. Hãy thay thế tham lam quá độ bằng lòng quảng đại, sự trợ giúp và hợp tác chung với nhau.
2. Hãy thay đổi lòng thù hận, oan trái bằng lòng từ ái, bao dung và tha thứ.
3. Hãy ý thức được thế giới mà chúng ta đang chung sống luôn có sự tương tác lẫn nhau. Một hành động bất cẩn, thiếu trách nhiệm, dầu ở bất cứ nơi đâu đều tiềm ẩn mối nguy hại cho tất cả.

Để hướng đến nền đạo đức có giá trị phổ quát, mọi việc làm đều phải xuất phát ngay từ trong nội tâm.
Hai nguyên tắc chủ đạo của đạo đức Phật giáo là tình thương và lòng bi mẫn (maitri và karuna).
Tình thương, lòng bác ái giúp chúng ta hiểu bản thân mình mong muốn hạnh phúc, người khác cũng có mong muốn giống như vậy.
Một trái tim nhân hậu, luôn thương người sẽ hiểu được đã là con người thì ai ai cũng muốn tránh xa đau khổ.
Luôn suy nghĩ như vậy, tự nhiên chúng ta sẽ đối xử với người khác rất tử tế theo đúng như cách mà chúng ta muốn người khác đối xử với bản thân mình.
Đức Thế Tôn đã từng giảng dạy có một pháp gây tác động mạnh mẽ lên vạn pháp, đó chính là tâm thức của chúng sanh.
Một nền hòa bình thật sự giữa các dân tộc, giữa các quốc gia chỉ có thể hình thành từ nơi nội tâm của mỗi người.
Sự thành tựu đó không thể nào đạt được bằng tiến bộ vật chất, hay các phát minh kỹ thuật, mà chỉ thành tựu được bằng các giá trị tâm linh.
Chỉ khi thay đổi được bản thân, chúng ta mới có thể thay đổi thế giới nầy theo một chiều hướng tốt đẹp.
Để có thể thay đổi được bản thân, chúng ta phải hiểu rõ được chính mình và biết cách vượt qua được chính mình.
Như vậy, đạo Phật cung ứng cho nhân loại ở thế kỷ XXI một giải pháp thiết thực cho các vấn nạn toàn cầu.
Đó là con đường trau dồi đạo đức và tu tập tâm linh.

Trước ngưỡng cửa bước vào thiên niên kỷ mới, lời dạy của Đức Thế Tôn luôn là nguồn ánh sáng dẫn đường, chỉ lối cho toàn nhân loại đi từng bước vững vàng đến một thế giới hòa bình, hạnh phúc và thịnh vượng.

↑ trở lên


Bài giảng

  • Rằm Tháng hai
  • Kinh Con Rắn
  • Rằm Tháng Ba
  • Kinh Dhaniya
  • Đại Lễ Vesak 2566
  • Kinh Tê Giác
  • Tứ Niệm Xứ
  • Rằm Tháng Năm
  • Rằm Tháng Sáu
  • Rằm Tháng Bảy
  • Rằm Tháng Tám
  • Kinh Kasi Bharadvaja
  • Rằm Tháng Chín
  • Rằm Tháng Mười
  • Rằm tháng Mười Một
  • Kinh Bāhiya
  • Rằm tháng Chạp
  • Rằm Tháng Giêng
  • Kinh Từ Bi (Metta Sutta)
  • Kinh Đại Niệm Xứ
  • Rằm Tháng Hai (2)
  • Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)
  • Rằm Tháng Ba (2)
  • Lễ Vesak 2567
  • Rằm Tháng Năm (2)
  • Chuyện thành Vesāli
  • Kinh Hạnh Phúc
  • Rằm Tháng Sáu
  • Rằm Tháng Bảy
  • Rằm Tháng Tám
  • Rằm Tháng Chín
  • Kinh Āḷavaka
  • Kinh Dhammika
  • Kinh Pabbajjā
  • Padhāna sutta
  • Kinh Subhāsita
  • Lộ trình Tâm Thức
  • Kinh Rāhula
  • Bản PDF


    Pāli


    English


    → Sơ đồ & Hình ảnh tóm lược


    Sưu tầm & Ghi chú


    © www.phapbaotu.com