Chùa Pháp Bảo Sư Bửu Hiền

Khóa học

Kênh Youtube

Tài liệu

Tứ Niệm Xứ

  1. KINH ĐẠI NIỆM XỨ
  2. THIỀN CHỈ VÀ THIỀN QUÁN
  3. TỨ NIỆM XỨ LÀ LỐI ĐI CỦA TỔ TIÊN PHẬT TỬ
  4. TỔNG QUAN VỀ SATIPAṬṬHĀNA SUTTA
  5. KHẢO SÁT VỀ BỐN NIỆM XỨ
  6. SỰ LIÊN QUAN GIỮA MỖI NIỆM XỨ VỚI SỰ GIÁC NGỘ
  7. ĐẶC ĐIỂM CỦA MỖI NIỆM XỨ
  8. TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA TỪ PĀLI “EKĀYANO MAGGO”
  9. TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ PĀLI “SATIPAṬṬHĀNA”
  10. ĐOẠN KINH VĂN ĐỊNH NGHĨA
  11. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ CHUYÊN CẦN

↑ trở lên

KINH ĐẠI NIỆM XỨ
MAHĀSATIPAṬṬHĀNA SUTTA
Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Thế Tôn ngự ở xứ sở Kuru, tại thị trấn Kammāsadhamma. Ở đấy, Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ Kheo: “Nầy các thầy Tỳ Kheo”. Các vị Tỳ Kheo vâng đáp: “Thưa vâng, bạch Đức Thế Tôn”. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
“Này các thầy Tỳ Kheo, đây là con đường trực chỉ đem lại sự thanh tịnh cho chúng sanh, thoát khỏi buồn rầu và sầu muộn, chấm dứt khổ đau và thất vọng, thành tựu chánh đạo, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là bốn niệm xứ”.
“Thế nào là bốn?
Này các thầy Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo

* Sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời;

* Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời;

* Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời;

* Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời”.

↑ trở lên

THIỀN CHỈ VÀ THIỀN QUÁN

Ở các tiêu đề trước, Bhikkhu Anālayo đã giải thích rõ về sự liên quan giữa thiền chỉ và thiền quán.
Đến đây, tác giả kết thúc chương bốn với tiêu đề “Thiền chỉ và thiền quán”.

Đây là hai phương pháp hành thiền phổ biến trong Phật giáo.

Thiền chỉ hay còn gọi là thiền tịnh chỉ (samatha) nổi bật về năng lực định, còn thiền quán hay thiền minh sát (vipassanā) đề cao vai trò của trí huệ.

Cả hai tạo nên một tâm thái thăng bằng cho hành giả trong suốt quá trình hành thiền.

Hình ảnh minh họa cho bài viết giúp cho chúng ta thấy sự cần thiết của cả thiền chỉ (calm) và thiền quán (insight).

Như người nông dân dùng cái ách để buộc hai con vật kéo vào cái cày, các hành giả chúng ta thực tập cả hai pháp thiền trên để huấn luyện và điều phục tâm.

Năng lực của định hỗ trợ cho việc tu tập tuệ quán, và ngược lại tuệ lực giúp cho cho hành giả phát triển thêm độ sâu lắng của thiền định.

Thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā) đều đạt tới mức độ hoàn hảo khi cả hai phối hợp nhuần nhuyễn với nhau.
Tập kinh chú giải Nettipakaraṇa diễn giải rõ là cả hai samatha và vipassanā đều cần thiết phải được tu tập, bởi vì samatha ngăn trừ phiền não tham ái, còn vipassanā loại bỏ phiền não vô minh.

Cả hai đều cần thiết để có thể diệt trừ các ác bất thiện pháp (bài kinh Rāgapeyyālaṃ Sutta thuộc chương hai pháp trong Tăng Chi Bộ Kinh).

Thiền chỉ và thiền quán là hai pháp thiền luôn hỗ tương cho nhau trong quá trình thanh tịnh hóa nội tâm.

Chúng ta hiểu là vai trò của thiền chỉ không phải là thứ yếu mà lại hết sức quan trọng trong việc trợ duyên cho tu tập thiền quán.
Đến đây, tác giả Bhikkhu Anālayo trình bày vấn đề sau cùng.

Có một số học giả cho rằng hai phương pháp thiền phản ánh hai lối tu tập khác nhau, rồi dẫn đến hai mục tiêu khác nhau.

Họ cho rằng thiền chỉ dẫn đến sự chứng đắc trạng thái diệt thọ tưởng định (saññāvedayitanirodha), rồi diệt trừ phiền não tham ái.
Còn thiền quán dẫn đến chấm dứt phiền não vô minh.

Trước hết, chúng ta hãy đọc kỹ đoạn kinh văn trong chương hai Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh Vijjhabhagiya Sutta:

“Thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā) đều có kết quả tương xứng.
Khi tịnh chỉ được tu tập, tâm được tu tập. Khi tâm được tu tập, tham ái sẽ được diệt trừ.
Khi tuệ quán được tu tập, trí tuệ được tu tập. Khi trí tuệ được tu tập, vô minh sẽ được diệt trừ.
Bị ô nhiễm bởi tham ái, tâm không giải thoát.
Bị ô nhiễm bởi vô minh, trí tuệ không chói sáng.
Từ sự diệt trừ tham ái, tâm giải thoát sẽ phát sanh.
Từ sự diệt trừ vô minh, tuệ giải thoát sẽ phát sanh.”

Đoạn kinh văn trên chỉ rõ sự thực hành samatha dẫn đến diệt trừ tham ái, còn tu tập vipassanā giúp cho hành giả chấm dứt vô minh.
Sự khác biệt giữa hai sự thực hành trên được diễn tả bằng hai cụm từ “tâm giải thoát” (cetovimutti) và “tuệ giải thoát” (paññāvimutti).

Tuy nhiên, tâm giải thoát và tuệ giải thoát không phải đều có nghĩa là sự giải thoát hoàn toàn.

Tuệ giải thoát để chỉ cho sự chứng đắc Niết Bàn, nhưng tâm giải thoát không được dùng theo ý nghĩa tương tợ.

Tâm giải thoát ở đây có thể chỉ cho sự trải nghiệm giải thoát tâm thức một cách tạm thời, như sự chứng đắc tứ thiền, hay tu tập về pháp tứ vô lượng tâm (Đại Kinh Phương Quảng, bài kinh thứ 43 trong Trung Bộ Kinh).

Như vậy, đoạn kinh văn trên không phải chỉ ra hai lối đi khác nhau để dẫn đến giải thoát mà muốn nói đến hai phương diện của một con đường tu tập tâm linh.

Liên hệ đến ý nghĩa tương tự, bài kinh Susīma Sutta (phẩm kinh Nidāna trong Tương Ưng Bộ Kinh) thuật lại là có nhiều vị Tỳ Kheo bày tỏ là đã đắc đạo, nhưng không chứng đắc các thắng trí.

Trong trường hợp nầy, chúng ta hiểu là chư Tỳ Kheo không chứng đắc các tầng thiền vô sắc giới, nhưng các Ngài có đầy đủ năng lực của tầng thiền sắc giới.

Bài kinh Paññāvimutti trong chương chín pháp Tăng Chi Bộ Kinh có nói đến các bậc thánh nhân A La Hán thành đạt tuệ giải thoát. Tất cả chư vị thánh nhân đó đều có khả năng về thiền định.

Như vậy, các đoạn kinh văn trên không phải mô tả hai con đường khác nhau để đắc đạo.

Đúng ra là các bài kinh mô tả các phương thức khác nhau mà vị hành giả phải tiếp cận để đi tới sự giải thoát.

Sự giác ngộ và giải thoát hoàn toàn cần đến sự thanh tịnh hóa của cả hai trạng thái lý tính và cảm tính của tâm thức.

Mặc dầu trên lý thuyết thiền chỉ và thiền quán có vẻ khác nhau, nhưng trong khi thực hành thật sự chúng luôn liên kết và hỗ trợ cho nhau.

Tập kinh Paṭisambhidāmagga thuộc Tiểu Bộ Kinh có đề cập đến sự giống nhau căn bản giữa thiền chỉ và thiền quán liên quan đến vai trò của từng pháp môn thiền.

Hành giả có thể tu tập thiền chỉ hoặc thiền quán đến độ thuần thục ở một thời điểm nhất định, nhưng đến giai đoạn cuối vị ấy cần phải kết hợp lại cả hai để đạt đến sự giải thoát rốt ráo.

Đó là chấm dứt cả tham ái lẫn vô minh.

↑ trở lên

TỨ NIỆM XỨ LÀ LỐI ĐI CỦA TỔ TIÊN PHẬT TỬ
Lời giới thiệu của Bhikkhu Bodhi về thiền tứ niệm xứ, satipaṭṭhāna, trong bản kinh tiếng Anh: “The Connected Discourses of the Buddha”, Tương Ưng Bộ Kinh.
Cụm từ Pāli “cattāro satipaṭṭhāna” thường được dịch là bốn cơ sở cho niệm (the four foundations of mindfulness), hay là sự thành lập niệm (the establishment of mindfulness). Chúng ta tìm thấy hai bài kinh trình bày rất chi tiết về pháp hành niệm xứ trong Kinh Tạng. Đó là bài kinh số 22 trong Trường Bộ Kinh, Kinh Đại Niệm Xứ, Mahāsatipaṭṭhāna Sutta. Và bài kinh số 10 trong Trung Bộ Kinh, Kinh Niệm Xứ, Satipaṭṭhāna Sutta. Hai bài kinh trên đề cập đến bốn cơ sở cho niệm, hay sự thành lập niệm. Đó là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp.
I. Niệm thân (kāyānupassanā) bao gồm 14 sự thực hành: niệm hơi thở, niệm tứ oai nghi, niệm các hoạt động của cơ thể, niệm các thể trược, niệm tứ đại, và chín pháp niệm về tử thi.
II. Niệm thọ (vedanānupassanā) bao gồm niệm các cảm thọ như lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, những cảm thọ liên quan đến thân và tâm.
III. Niệm tâm (cittānupassanā) là quán niệm về 16 trạng thái của tâm, như tâm tham, tâm sân, tâm không tham, tâm không sân v.v….
IV. Niệm pháp (dhammānupassanā) là sự thực hành đa dạng nhất.
Nội hàm của danh từ pháp (dhamma) rất rộng và bao quát. Dhamma để chỉ cho mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên. Trong ngữ cảnh của kinh Niệm Xứ, pháp hay dhamma được sắp xếp theo các phân loại sau:
1. Năm triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm, phóng tâm, và hoài nghi.
2. Năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uần, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn.
3. Mười hai xứ bao gồm sáu nội xứ và sáu ngoại xứ.
4. Thất giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xã giác chi.
5. Tứ diệu đế: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
Ngay từ đoạn mở đầu của bài kinh Niệm Xứ, Satipaṭṭhāna Sutta, tầm quan trọng của sự thực hành được mô tả qua cụm từ “ekāyana magga”.
Ekāyana magga được phiên dịch theo hai cách.
Thứ nhất, ekāyana magga là con đường độc đạo, con đường duy nhất để đi tới Niết Bàn.
Thứ hai, ekāyana magga là con đường trực hướng, vì nó dẫn tới một nơi duy nhất, đó là Niết Bàn.
Tứ niệm xứ được mô tả là “ekāyana magga”, là con đường độc đạo hay con đường trực hướng. Đây là con đường hay sự thực hành đem lại sự thanh tịnh cho chúng sanh, thoát khỏi buồn rầu và sầu muộn, chấm dứt khổ đau và thất vọng, thành tựu chánh đạo, chứng ngộ Niết Bàn.
Đức Thế Tôn khuyến khích sự thực hành thiền tứ niệm xứ cho các vị Sa di (người mới tập sự), các vị Tỳ Kheo, các bậc thánh nhân hữu học, và ngay cả đến chư vị thánh nhân A La Hán. Các vị Sa di cần phải thực tập để phát sanh tuệ quán cần thiết cho đạo lộ giải thoát. Các vị Tỳ Kheo, các bậc thánh nhân hữu học thực tập để hoàn thiện pháp hành chuẩn bị cho việc chứng đắc quả vị cao nhất là A La Hán. Chư vị thánh nhân A La Hán vẫn tiếp tục hành thiền tứ niệm xứ, sống viễn ly thân, thọ, tâm và pháp. Như vậy, thiền tứ niệm xứ chính là hành xứ và lãnh vực của một vị hành giả trong đạo Phật.
Sự thực hành thiền tứ niệm xứ được xem là tuổi thọ của Phật giáo (the longevity of Buddha’s dispensation). Trước khi viên tịch Niết Bàn, Đức Thế Tôn có lời khuyên dạy tất cả chư vị đệ tử: “Hãy nương tựa nơi hải đảo của chính mình, hãy tìm sự nương tựa nơi chính mình”. Lời dạy trân quý của Đức Thế Tôn có ý nhắc nhở chúng ta hãy thực hành satipaṭṭhāna hay thiền tứ niệm xứ. Thực hành thiền tứ niệm xứ là sự trau dồi và phát triển sati hay niệm.
Niệm hay sati là sự thức tỉnh, sự biết rõ những trải nghiệm ngay tức thời những gì đang xảy ra ở bên trong thân tâm và ở bên ngoài, những diễn biến trong nội thân và ngoại cảnh.
Đoạn kinh văn mô tả pháp hành trong các bài kinh Niệm Xứ là:
1. Ở đây, vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời;
2. Vị Tỳ Kheo sống quán thọ trên các thọ, ….
3. Vị Tỳ Kheo sống quán tâm trên tâm, ….
4. Vị Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời.
Đoạn kinh văn được lập đi và lập lại, nhấn mạnh hành động quan sát đối tượng trên một lĩnh vực duy nhất. Đối tượng quan sát trong một thời điểm nhất định chỉ có thể là một trong bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp. Chỉ là sự quan sát trên một đối tượng mà thôi, và tập trung hết năng lực quan sát vào trong đó. Đối tượng để quan sát chỉ đơn thuần là các yếu tố khách quan. Do đó, hãy loại bỏ mọi vọng tưởng mà chúng ta thường gắn liền với đối tượng.
Vọng tưởng thường làm cho phần đông không thể nào thấy được bản chất thật sự của vạn pháp. Hành giả phải thấy cho được hoạt động của cơ thể trong quá trình hô hấp chỉ là hơi thở vào và hơi thở ra. Chỉ có hơi thở vào và hơi thở ra. Chỉ có vậy thôi! Chớ tuyệt nhiên không có con người hay một tự ngã nào đang thở.
Khi theo dõi các cảm thọ như đau nhức hành giả nhận thức rõ đó chỉ là các cảm thọ phát sanh lên rồi hoại diệt. Ngoài ra không có một ai đang thọ nhận các cảm giác đó.
Quan sát dòng chảy của tâm thức, hành giả hiểu đây là sự trôi chảy tự nhiên của các trạng thái tâm, chớ không có ai đứng đằng sau diễn biến của tâm thức.
Các pháp cũng vận hành theo quy luật khách quan, chớ không theo một ý muốn chủ quan của riêng ai. Cốt lõi của thực hành thiền tứ niệm xứ chính là như vậy.
Điều rất quan trọng là sati hay niệm không hoạt động một cách riêng lẽ, độc lập, mà luôn kết hợp chặt chẽ với rất nhiều các thiện pháp. Đó là ātāpī, nghĩa là nhiệt tâm, chuyên cần, cố gắng. Đó là sampajāno, nghĩa là tỉnh giác, hay sáng suốt biết rõ. Đó là samāhitā ekaggacittā, nghĩa là định tâm, sự tập trung tư tưởng.
Hành thiền tứ niệm xứ chính là thực hành ba chi phần cuối trong bát chánh đạo: chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Giới hạnh và trí tuệ luôn đi song hành cùng nhau. Giới hạnh bao gồm ba chi phần giữa trong bát chánh đạo: chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Trí tuệ bao gồm hai chi phần đầu trong bát chánh đạo: chánh kiến và chánh tư duy. Thực hành tứ niệm xứ nghĩa là phát triển một cách toàn diện giáo nghĩa bát chánh đạo.
Đức Thế Tôn chỉ dẫn rất chi tiết cho vị hành giả thực hành trên mỗi niệm xứ bằng cách quán niệm nội thân (của chính mình), ngoại thân (của người khác), và cả nội thân lẫn ngoại thân. Tiếp tục, vị hành giả ấy quán niệm trên mỗi niệm xứ sự sanh khởi, sự hoại diệt, cả sự sanh khởi và sự hoại diệt. Thực hành liên tục như vậy chủ yếu để duy trì niệm và giúp phát sanh ánh sáng trí huệ. Nhờ đó vị hành giả sống không còn bị ràng buộc, không còn chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian nầy.
Sự thực hành thiền niệm xứ luôn gắn liền với một phẩm chất rất quan trọng. Đó là tỉnh giác (sampajañña). Tỉnh giác là sự biết rõ các hoạt động của thân thể khi đi, đứng, nằm, ngồi. Cũng là sự ý thức rõ những việc mình đang làm như co tay, duỗi tay, đứng lên, ngồi xuống, ăn uống, ngủ nghỉ, tắm rửa v.v…. Hơn thế nữa, tỉnh giác là nhanh chóng nhận dạng ra các cảm thọ cùng suy nghĩ đến rồi lại đi.
Các bản chú giải về kinh Niệm Xứ giải thích rõ tỉnh giác hay sampajañña có bốn ứng dụng:
1. Hiểu biết rõ về mục tiêu của hành động.
2. Hiểu biết rõ về phương tiện của hành động.
3. Sự an trú tâm trên đối tượng đang quán xét.
4. Và nhận thức rõ bản chất của mọi sự vật, thoát ra khỏi mê lầm.
Niệm và tỉnh giác giống như đôi chân mạnh mẽ giúp cho hành giả đi về hướng Niết Bàn.
Tứ niệm xứ là pháp đối trị lại năm triền cái (tham dục, sân hận, hôn trầm, phóng tâm, và hoài nghi). Năm pháp triền cái được xem là cả một khối bất thiện pháp (a heap of unwholesome). Ngược lại, tứ niệm xứ là cả một khối thiện pháp (a heap of wholesome). Tứ niệm xứ kết hợp với thất giác chi tạo thành một năng lực tinh thần mạnh mẽ đủ để loại bỏ năm triền cái.
Tam thế Chư Phật, Chư Phật trong thời quá khứ, Chư Phật trong thời vị lai, và Chư Phật trong thời hiện tại mô tả về hành trạng của các Ngài theo ba bước. Thứ nhất là đoạn trừ năm triền cái. Thứ hai là an trú tâm trong pháp tứ niệm xứ. Và sau cùng là phát triển pháp thất giác chi.
Đức Thế Tôn của chúng ta là Bậc Đạo Sư, là Đấng Pháp Vương vô thượng. Đức Thế Tôn đã chỉ dẫn pháp thiền tứ niệm xứ một cách tuyệt diệu nhất, để cho người nghe với như lý tác ý có thể ứng dụng các nguyên lý thực hành vào trong đời sống hằng ngày. Làm được như vậy chư vị hành giả sẽ trải nghiệm được thành quả của pháp hành ở ngay tại đây và ngay bây giờ (here and now).
Chính do hành thiền tứ niệm xứ mà vị hành giả đem lại lợi ích cho chính mình, đem lại lợi ích cho người khác, đem lại lợi ích cho cả hai, tư lợi và lợi tha. Điều cần thiết nhất là trong khi thực hành pháp, hành giả vẫn giữ được các mối liên hệ hài hòa với xã hội bên ngoài. Có nghĩa là chúng ta tự trau dồi thêm các đức tính tốt như nhẫn nại, từ ái, khiêm tốn, tri ân, lòng vị tha v.v….
Đức Thế Tôn không quên nhắc nhở các vị hành giả nên chia sẻ công đức, hồi hướng phước báu của việc ngồi thiền đến gia đình, thân bằng quyến thuộc, các đồng nghiệp, bà con, hàng xóm láng giềng. Điểm đặc biệt là thiền tứ niệm xứ rất cần thiết cho người bệnh, nhất là các bệnh nhân đang phải đối mặt với những căn bệnh hiểm nghèo.
Niệm và tỉnh giác trên thân, thọ, tâm, pháp là phương thuốc nhiệm mầu và hiệu nghiệm, giúp cho các bệnh nhân đủ năng lực nội tâm để có thể vượt qua những cơn đau nhức kinh khủng, những cảm thọ thống khổ cả về thân lẫn tâm.
Pháp thiền tứ niệm xứ quả thật là một pháp môn cao quý, thậm thâm, và vi diệu trong kho tàng Pháp Bảo. Vị hành giả quán thân trên thân. Quán thọ trên các cảm thọ. Quán tâm trên tâm. Và quán pháp trên các pháp.
Đây chính là trú xứ của người Phật tử thuần thành, là hành xứ, là lãnh địa của vị hành giả nhiệt tâm và chuyên cần. Hãy ở trong trú xứ của mình, hãy đi lại trong hành xứ của mình, hãy sinh hoạt trong lãnh địa của mình. Đừng đi ra khỏi chỗ ở của mình, rồi đi lạc vào lãnh địa của người khác.
Làm được như vậy, tất cả chúng ta sẽ được an lạc và hạnh phúc lâu dài. Ác ma sẽ không có cơ hội đối với những ai chịu khó học hỏi và thực hành pháp thiền tứ niệm xứ. Ác ma sẽ không thể nào bắt được những ai đang đi trên con đường tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ là lối đi của tổ tiên người Phật tử. Pháp thiền tứ niệm xứ là tài sản tinh thần vô giá mà Chư Phật trong ba đời, chư thánh hiền Tăng đã để lại cho người con Phật chúng ta.

↑ trở lên

TỔNG QUAN VỀ SATIPAṬṬHĀNA SUTTA
Quyển sách “Satipaṭṭhāna Sutta, The Direct Path to Realization” của Bhikkhu Anālayo chính là sách cẩm nang dành cho các vị hành giả chuyên tâm thực hành về thiền quán Phật giáo.
Quyển sách có cả thảy 15 chương sách.
Chúng ta bắt đầu tìm hiểu chương đầu tiên là “Khái niệm chung về con đường trực chỉ”, với sáu tiêu đề nhỏ như sau:
1. Tổng quan về kinh Niệm Xứ.
2. Khảo sát về bốn niệm xứ
3. Mối liên quan giữa mỗi niệm xứ với sự giác ngộ.
4. Đặc trưng của mỗi niệm xứ.
5. Tìm hiểu về con đường trực chỉ.
6. Và ý nghĩa của thuật ngữ Niệm Xứ.
Hãy bắt đầu với phần một: Tổng quan về kinh Niệm Xứ, The Satipaṭṭhāna Sutta.
Satipaṭṭhāna là con đường trực chỉ dẫn đến Niết Bàn.
Con đường nầy được khảo sát thật chi tiết trong bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta, kinh Niệm Xứ trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya).
Cũng nội dung trên lại xuất hiện trong kinh Mahāsatipaṭṭhāna Sutta, kinh Đại Niệm Xứ ở Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya). Sự khác biệt duy nhất ở đây là kinh Đại Niệm Xứ trình bày rất chi tiết về tứ diệu đế.
Chủ đề niệm xứ, satipaṭṭhāna cũng được bàn đến trong các bài kinh ngắn hơn ở Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) và Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya).
Hầu hết các bài kinh ngắn trong hai bộ kinh sau chỉ trình bày sơ lược dàn bài của bốn niệm xứ, chớ không đi vào chi tiết.
Nội dung bốn niệm xứ chính là thành quả trực tiếp liên hệ đến sự giác ngộ của Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn đã từng nói bốn niệm xứ nằm trong lãnh vực trí huệ thâm sâu của Ngài liên quan đến các pháp chưa từng được biết đến trong cùng một thời đại.
Một cách thật rõ ràng là lời dạy về niệm xứ trong bài kinh Mahāsatipaṭṭhāna Sutta và bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta thuộc về giai đoạn sau, giai đoạn mà Giáo Pháp bắt đầu được truyền bá từ khu vực nơi bình nguyên sông Hằng cho tận đến thị trấn xa xôi Kammāsadhamma ở xứ sở Kuru.
Kuru là một trong 16 quốc độ ở xứ sở Ấn Độ thời Đức Thế Tôn tại thế.
Niệm xứ hay Satipaṭṭhāna là con đường trực chỉ dẫn đến Niết Bàn.
Bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta mở đầu với đoạn kinh nói về con đường đó như sau:
“Này các thầy Tỳ Kheo, đây là con đường trực chỉ đem lại sự thanh tịnh cho chúng sanh, thoát khỏi buồn rầu và sầu muộn, chấm dứt khổ đau và thất vọng, thành tựu chánh đạo, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là bốn niệm xứ”.
Tiếp theo, bài kinh trình bày kinh văn “định nghĩa” về bốn niệm xứ như sau:
“Thế nào là bốn?
Này các thầy Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời;
sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời;
sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời;
sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời”.
Đoạn kinh văn định nghĩa trên đề cập đến bốn cơ sở cho sự thực hành về niệm: thân, thọ, tâm, và pháp.
Định nghĩa nầy có nhắc đến các yếu tố hỗ trợ cần thiết, đó là nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để từ bỏ tham ái và sân hận ở đời.
Sau đoạn kinh văn định nghĩa trên, bài kinh bắt đầu mô tả về niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp một cách chi tiết.
Pháp niệm thân bắt đầu từ niệm hơi thở, các oai nghi, các hoạt động hằng ngày, phân tích thân thể thành các thành phần, niệm về tử thi ở các giai đoạn.
Hai pháp satipaṭṭhāna tiếp theo là niệm thọ và niệm tâm.
Satipaṭṭhāna thứ tư là niệm pháp. Niệm pháp bao gồm các pháp triền cái, ngũ uẩn, các xứ, thất giác chi và tứ diệu đế.
Bài kinh kết thúc với đoạn nhắc lại công năng của con đường trực chỉ và thời gian thực hành tối thiểu mà một vị hành giả có thể chứng đạo.
Bài kinh nhấn mạnh sự thực hành pháp niệm với điệp khúc như sau:
“Như vậy, vị hành giả sống quán thân trên nội thân, hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị hành giả sống quán sự sanh khởi trên thân, hay sống quán sự đoạn diệt trên thân, hay sống quán sự sanh khởi và sự đoạn diệt trên thân. Vị hành giả xác lập: ‘Đây là thân thể’, an trú như vậy trên sự hiểu biết đơn thuần và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống giải thoát, không chấp thủ vào bất cứ điều gì ở thế gian nầy”.
Ba pháp niệm còn lại cũng được trình bày với điệp khúc tương tợ.
Như vậy, bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta được xây dựng trên một cấu trúc rất vững chắc. Đó là đoạn văn trình bày con đường trực chỉ, câu kinh văn định nghĩa và phần điệp khúc xuyên suốt bài kinh.

↑ trở lên

KHẢO SÁT VỀ BỐN NIỆM XỨ
Bốn niệm xứ là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp.
Bốn pháp niệm trên có mối liên hệ như thế nào?
Trước hết chúng ta tìm hiểu về niệm thân.
Niệm thân là sự ghi nhận các hoạt động và oai nghi của cơ thể cho đến việc quán xét các bộ phận riêng rẽ của cơ thể. Sự thực hành ở mức độ cơ bản nầy tạo cơ sở tiếp theo cho pháp niệm thọ.
Đây là sự chuyển đổi từ sự ghi nhận các hoạt động đang diễn ra của cơ thể sang sự ghi nhận về các cảm thọ. Các cảm thọ được xem là đối tượng vi tế hơn rất nhiều so với các đối tượng trong pháp niệm thân.
Niệm thọ không chỉ phân chia các cảm thọ ra thọ lạc, thọ khổ, thọ bất khổ bất lạc mà còn phân biệt rõ các cảm thọ nào thuộc về vật chất và cảm thọ nào không thuộc về vật chất. Sự phân biệt nầy liên quan đến phương diện đạo đức.
Sự phân biệt trên lại là cơ sở cho sự thực hành nhận ra sự khác biệt giữa trạng thái tâm thiện và trạng thái tâm bất thiện. Đó chính là pháp niệm xứ thứ ba, niệm tâm.
Niệm tâm khởi đầu từ điều nhận biết sự có mặt hay không có mặt của các tâm bất thiện, như tâm tham, tâm sân, tâm si, và nhận biết sự có mặt hay không có mặt của tâm thiền định.
Sự thực tập niệm tâm diễn tiến lần lượt đến các pháp chướng ngại, là năm pháp triền cái. Và niệm về năm pháp triền cái là đề mục đầu tiên của sự thực tập niệm pháp.
Niệm pháp lại tiếp tục tiến hành hai đề mục khác nữa là ngũ uẩn và mười hai xứ. Sự thực hành nầy lại tiếp tục với niệm về các chi phần của sự giác ngộ, các giác chi.
Phần cuối của niệm pháp chính là khảo sát về tứ diệu đế.
Như vậy, trình tự của bốn niệm xứ được tiến hành tuần tự từ mức độ thô sơ cho đến mức độ tinh tế bậc nhất.
Niệm thân được xem là nền tảng cho sự huân tập về chánh niệm.
Trong khi đó, đối tượng cuối của niệm pháp là quán xét về tứ diệu đế, sự trải nghiệm trực tiếp của hành giả về Niết Bàn.
Sự thực tập cốt lõi về thiền quán niệm xứ là sự nhận biết về tất cả các pháp đúng với bản chất, khi chúng xảy ra.
Sự thực hành về thiền tứ niệm xứ có hai yếu tố là toàn diện và linh hoạt.
Cả bốn niệm xứ đều mối liên quan hỗ tương và xuyên suốt trong quá trình hành thiền.
Ví dụ như niệm thân sẽ không bị lãng quên, sẽ không bị bỏ qua mặc dầu vị hành giả đã tiến bộ rất nhiều trong sự thực tập.
Thật ra, niệm thân vẫn là sự thực hành miên mật của chư vị thánh nhân A La Hán. Như chúng ta biết, sau khi giác ngộ Đức Thế Tôn vẫn thường xuyên thực hành niệm hơi thở.
Như vậy, các pháp thực hành trong pháp niệm xứ được xem là hỗ trợ, bổ túc lẫn nhau.
Các bước thứ tự trong pháp hành thiền tứ niệm xứ thật ra là đáp ứng thích nghi với từng cơ tánh khác nhau của các vị hành giả, trong từng giai đoạn mà thôi.
Hơn thế nữa, bốn niệm xứ không chỉ hỗ trợ, bổ túc cho nhau mà cả bốn niệm xứ đều có mặt trong một pháp niệm riêng lẽ.
Bài kinh Ānāpānasati Sutta, kinh Niệm Hơi Thở, giải thích rõ làm thế nào chỉ với một pháp niệm hơi thở đã bao quát cả bốn niệm xứ.
Bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta, kinh Niệm Xứ, trình bày bốn niệm xứ theo một thứ tự mạch lạc và cả bốn pháp luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau.

↑ trở lên

SỰ LIÊN QUAN GIỮA MỖI NIỆM XỨ VỚI SỰ GIÁC NGỘ

Theo bài kinh Ānāpānasati Sutta, kinh Niệm Hơi Thở, vị hành giả có thể thực hành bao quát pháp thiền tứ niệm xứ chỉ với một niệm xứ duy nhất.

Như vậy chúng ta có thể thắc mắc là một niệm xứ duy nhất, chẳng hạn như niệm thân, có thể là sự thực hành toàn diện của pháp tứ niệm xứ hay chưa?

Cũng có nhiều bài kinh trong Phẩm Tương Ưng Niệm Xứ, Tương Ưng Bộ Kinh, ghi lại rằng sự thực hành chỉ một niệm xứ thôi cũng đủ để chứng đạo.

Các bản chú giải kinh sau đó đã giải thích và chứng minh cho luận điểm nêu trên.

Nhiều vị thiền sư nổi tiếng trong thời hiện đại chú trọng đến sự thực hành kỹ thuật của một niệm xứ duy nhất.

Bởi vì chính sự định tâm và hoàn hảo trong sự thực hành một pháp thiền duy nhất có thể bao quát hết bốn pháp niệm xứ, và như vậy là đủ để thành đạo.

Ngài thiền sư Taungpulu bao quát hết cả bốn niệm xứ trong pháp niệm thân.

Thiền sư Goenka cho rằng thông qua pháp niệm thọ là đã thực hành ba niệm xứ còn lại.

Thật ra, các kỹ thuật thiền định đặc biệt nào đều tự động tạo ra sự tiến bộ về niệm hay sự tỉnh thức.

Chúng ta hãy đọc kỹ lại bài kinh Ānāpānasati Sutta, kinh Niệm Hơi Thở.

Bài kinh Niệm Hơi Thở không có ý muốn nói rằng chỉ niệm về hơi thở thôi cũng đã là đủ cho pháp thiền tứ niệm xứ. Không phải là như vậy!

Sự huân tập về niệm hay sati có thể diễn tiến thông qua đề mục hơi thở hoặc tiến hành theo các đề mục khác, các đề mục hay đối tượng đã bao quát tất cả mọi phương diện khác nhau của đời sống.

Chắc chắn các đề mục hay đối tượng bao quát như vậy là thành quả của sự thực hành có chọn lọc, nếu không như vậy thì Đức Thế Tôn đã không thuyết giảng bài kinh Niệm Xứ, Satipaṭṭhāna Sutta, với đầy đủ cả bốn niệm xứ.

Do đó, có nhiều vị thiền sư và học giả nhấn mạnh đến việc thực hành tất cả bốn niệm xứ trong khi hành thiền.

Như vị thiền sư Ñāṇapoṇika gợi ý rằng hành giả sẽ chọn lọc thực hành một pháp niệm xứ trước, và sau đó tiếp tục thực hành các pháp niệm xứ còn lại.

Ở đoạn cuối bài kinh Niệm Xứ, có đoạn kinh nói rằng sự thực hành cả bốn niệm xứ sẽ dẫn đến sự chứng đắc được hai quả vị cao nhất là Bất Lai và A La Hán.

Cả bốn niệm xứ khi được phát huy một cách tốt nhất sẽ dẫn đến quả vị cao nhất, trong khi đó sự thực hành một niệm xứ riêng lẻ sẽ đem lại quả vị thấp hơn.

Trở lại bài kinh Ānāpānasati Sutta, kinh Niệm Hơi Thở, ĐứcThế Tôn có làm phép so sánh bốn niệm xứ giống như bốn cỗ xe chạy đến từ bốn phương hướng.

Một cỗ xe sẽ tạo nên một đám bụi trên con đường.

Một pháp niệm xứ như niệm thân có khả năng diệt trừ một số ít bất thiện pháp, như một cỗ xe chỉ tạo nên một ít bụi.

Trong khi đó, sự phối hợp của bốn niệm xứ được hiểu như cả bốn cỗ xe cùng chạy một lúc, chắc chắn là đường phố sẽ phủ đầy bụi bặm.

Như vậy, sự thực hành chỉ một niệm xứ có khả năng giúp cho vị hành giả thành đạt tuệ quán thâm sâu, nếu vị ấy thực hành chính xác theo cấu trúc của bài kinh Niệm Xứ.

Tuy nhiên, sự cố gắng tổng hợp cả bốn niệm xứ trong một niệm xứ có nghĩa là sự thực hành thiền quán sẽ tùy thuộc vào cơ tánh riêng biệt của mỗi vị hành giả.

Kết hợp lại như vậy để tạo nên động lực cho sự thực hành và giúp cho pháp thiền của vị ấy được phát triển bền vững, hài hòa.

↑ trở lên

ĐẶC ĐIỂM CỦA MỖI NIỆM XỨ
Tứ niệm xứ (cattāro satipaṭṭhāna) bao gồm niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp.
Mỗi niệm xứ có đặc điểm riêng và cách ứng dụng từng niệm xứ trong pháp hành thiền có hơi khác nhau.
Theo tập kinh Paṭisambhidāmagga thuộc Tiểu Bộ Kinh, mỗi niệm xứ có sự tương tác với từng uẩn riêng biệt.
Chúng ta biết là có năm tổ hợp hay năm uẩn là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Sắc uẩn, thọ uẩn, và thức uẩn tương ứng với ba niệm xứ đầu tiên: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm.
Trong khi đó tưởng uẩn và hành uẩn tương ứng với niệm pháp.
Thật ra, sự phân chia nầy cũng chỉ là tương đối.
Theo luận giải của tập kinh Paṭisambhidāmagga, sự cảm nhận chủ quan của vị hành giả được khảo sát với sự trợ giúp của bốn niệm xứ.
Có nghĩa là khi tiếp xúc với ngoại cảnh bên ngoài, diễn biến tâm lý và vật lý của hành giả sẽ được phân tích qua lăng kính tứ niệm xứ.
Sự phân chia pháp niệm xứ, satipaṭṭhāna, thành ra bốn niệm xứ chỉ rõ cách tiếp cận phân tích, tương tự như bản thân vị hành giả được phân chia thành năm uẩn vậy.
Sự phân chia một cá thể thành năm uẩn và phân chia niệm xứ thành bốn niệm xứ, cả hai sự phân chia nầy đều cố gắng hóa giải ảo tưởng của người hành thiền về thực tại.
Bằng sự ghi nhận liên tục vị thiền sinh sẽ lần lượt phá vỡ được cả một khối kết dính của tự ngã và thành trì cuối cùng là “cái tôi”.
Tất cả mọi cảm nhận chủ quan như “tôi thấy” hay “tôi nghe” không còn nữa mà thay vào đó chỉ còn đơn thuần là “sự thấy” hay “sự nghe” mà thôi.
Có phải chăng Đức Thế Tôn đã từng giảng dạy cho các thiền sinh chúng ta hãy khảo sát từng uẩn riêng lẻ với một quan điểm nhất quán là không có “một cái ta” hay “một tự ngã” nào có thể tìm thấy ở trong đó?
Nêu lên sự tương quan giữa bốn niệm xứ với ngũ uẩn, các bản chú giải kinh văn giải thích mỗi niệm xứ thích hợp cho từng tánh cách riêng biệt hay cơ tánh của mỗi hành giả.
Niệm thân và niệm thọ thích hợp cho những ai có tính cách tham ái nhiều, trong khi đó những ai có khuynh hướng suy tư nhiều sẽ dụng công trong việc niệm tâm hay niệm pháp.
Hay nói cách khác, niệm thân và niệm thọ thích hợp cho những hành giả có khuynh hướng cảm tính; trong khi đó, niệm tâm và niệm pháp lại dành cho các hành giả hay thiên về lý tính.
Các bản chú giải có nhận xét chi tiết thêm là niệm thân và niệm tâm thích hợp với các hành giả có suy nghĩ và phản ứng chậm chạp.
Trong khi đó, niệm thọ và niệm pháp thường thích hợp hơn cho các hành giả có suy nghĩ và phản ứng nhanh nhạy.
Các niệm xứ đôi khi còn ứng dụng thích hợp cho các trạng thái tâm lý riêng biệt. Ví dụ như khi hành giả cảm thấy cơ thể hơi uể oải, mệt nhọc thì nên hướng tâm sang đề mục thân hành niệm.
Một ý khác cũng rất quan trọng.
Các tập kinh Nettippakaraṇa và Visuddhimagga trong dòng văn học Pāli chú giải sắp xếp bốn niệm xứ tương tác với bốn tưởng sai lầm, Vipallāsa, (the four distortions).
Bốn pháp tưởng sai lầm đó là điều nhận thức sai lầm. Đối với thế gian là không đẹp, không hạnh phúc, không thường còn, và không có tự ngã lại thấy là đẹp, hạnh phúc, thường còn, và có tự ngã.
Bốn pháp trên còn được gọi là vọng tưởng hay điên đảo tưởng.
Từng niệm xứ có công năng diệu dụng để đối trị với các pháp vọng tưởng nêu trên.
Niệm thân có công năng giúp cho vị hành giả thấy được sự bất tịnh của cơ thể.
Niệm thọ giúp cho thấy được các cảm giác chỉ là khổ, pháp khổ não.
Niệm tâm giúp cho thấy được sự trôi chảy liên tục của dòng tâm thức, pháp vô thường.
Niệm thọ giúp cho thấy được quan điểm về tự ngã thường hằng và thực thể chỉ là một ảo tưởng, pháp vô ngã.
Như vậy, mỗi niệm xứ có công năng điều chỉnh lại nhận thức sai lầm trong tâm của vị hành giả.
Như chúng ta đã biết là có ba cánh cửa dẫn đến sự giải thoát, còn gọi là “Tam giải thoát môn”.
Đó là vô nguyện giải thoát (the desireless liberation), không tánh giải thoát (the empty liberation), và vô tướng giải thoát (the signless liberation).
Tập chú giải Nettippakaraṇa ghi rõ thêm là niệm thân và niệm thọ tương tác với cánh cửa vô nguyện giải thoát.
Niệm tâm tương tác với cánh cửa không tánh giải thoát.
Và niệm pháp tương tác với cánh cửa vô tướng giải thoát.
Chúng ta phải hiểu rằng cả bốn niệm xứ đều dẫn đến một kết quả duy nhất, đó là sự giác ngộ và giải thoát tối hậu; giống như bốn cổng thành khác nhau đều dẫn người hành khách đi tới nơi trung tâm của thành phố.
Điều khác biệt giữa bốn niệm xứ chỉ là đề mục hay đối tượng, còn kết quả chỉ là một; cũng giống như cả bốn cầu thang đều dẫn hành khách đi lên tới nơi cao nhất của tòa lâu đài.
Tác giả của quyển sách thiền tứ niệm xứ, Bhikkhu Anālayo, có minh họa sự tương quan giữa bốn niệm xứ với ngũ uẩn qua bản sơ đồ như sau:


Sự tương quanNgũ uẩnTính cáchTuệ quán
Niệm thânSắc uẩnTham ái, phản ứng chậm chạpThân bất tịnh
Niệm thọThọ uẩn Tham ái, phản ứng nhanh nhạyKhổ não
Niệm tâmThức uẩnSuy tư nhiều, phản ứng chậm chạpVô thường
Niệm phápTưởng uẩn, hành uẩnSuy tư nhiều, phản ứng nhanh nhạyVô ngã



↑ trở lên

TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA TỪ PĀLI “EKĀYANO MAGGO”

Bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta, kinh Niệm Xứ bắt đầu với lời giới thiệu về bốn niệm xứ như là con đường trực chỉ dẫn đến sự giác ngộ.

Bài kinh mở đầu như sau:

“Này các thầy Tỳ Kheo, đây là con đường trực chỉ đem lại sự thanh tịnh cho chúng sanh, thoát khỏi buồn rầu và sầu muộn, chấm dứt khổ đau và thất vọng, thành tựu chánh đạo, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là bốn niệm xứ”.

Con đường trực chỉ trong đoạn kinh văn trên xuất hiện rất nhiều lần trong các bài kinh Nikāya, đều để chỉ cho pháp niệm xứ, satipaṭṭhāna.

Điệp từ “con đường trực chỉ” nhấn mạnh tầm quan trọng của satipaṭṭhāna, hay pháp niệm xứ bởi vì satipaṭṭhāna là sự thực hành không thể thiếu để đạt tới sự giác ngộ.

Rất nhiều câu kệ ngôn trong phẩm kinh Niệm Xứ, Tương Ưng Bộ Kinh, diễn giải satipaṭṭhāna hay pháp niệm xứ là con đường trực chỉ để vượt qua cơn nước lũ trong thời quá khứ, thời hiện tại, và thời vị lai.

“Con đường trực chỉ” được dịch từ cụm từ Pāli “Ekāyano maggo”.

Ekāyano maggo được kết hợp bởi: Eka + ayana + magga
Eka nghĩa là một.
Ayana là đi lại
Và magga là con đường.

Lối giải thích truyền thống theo các bản chú giải đã giải thích cụm từ “Ekāyano maggo” theo năm ý nghĩa như sau:

1. Ekāyano maggo có nghĩa là con đường trực chỉ hay trực hướng, vì con đường nầy dẫn trực tiếp tới mục tiêu.
2. Ekāyano maggo có nghĩa là con đường chỉ có đi một mình.
3. Ekāyano maggo có nghĩa là con đường được chỉ dẫn bởi Bậc Đạo Sư (Đức Thế Tôn).
4. Ekāyano maggo có nghĩa là con đường chỉ có duy nhất nơi đạo Phật.
5. Ekāyano maggo có nghĩa là con đường dẫn tới một mục tiêu duy nhất là Niết Bàn.

Bhikkhu Anālayo đã dịch cụm từ “Ekāyano maggo” theo ý nghĩa thứ nhất, và tác giả diễn giải tiếp tục như sau.

Trong bài Đại Kinh Sư Tử Hống, Trung Bộ Kinh bài số 12, có một ví dụ nói về người đàn ông đi trên con đường dẫn tới tòa lâu đài, nhờ vào con đường đó mà người ấy đi đến nơi ông ta muốn đến.

Con đường đó được mô tả là “Ekāyano”.

Trong văn cảnh nầy, ekāyano có hàm ý về sự trực chỉ của con đường chớ không có ý là con đường duy nhất.
Nói đó là con đường trực chỉ dẫn tới tòa lâu đài thì thích hợp hơn ý nghĩa là con đường duy nhất để dẫn tới tòa lâu đài.
Như vậy, ekāyano diễn đạt ý nghĩa về sự trực diện của phương hướng chớ không phải là sự loại trừ, con đường độc nhất vô nhị.
Ekāyano mô tả về niệm xứ như một phương diện của bát chánh đạo có tác dụng trực tiếp trong việc dẫn đến sự giác ngộ.
Như vậy, niệm xứ là con đường trực chỉ bởi vì nó dẫn trực tiếp tới sự giác ngộ, Niết Bàn.
Cách hiểu nầy sẽ phù hợp hơn với đoạn kết của bài kinh Niệm Xứ.
Ở đoạn cuối bài kinh Niệm Xứ, Đức Thế Tôn thuyết giảng rằng sự thực hành cả bốn niệm xứ sẽ dẫn đến sự chứng đắc được hai quả vị cao nhất, Bất Lai và A La Hán, trong khoảng thời gian tối đa là bảy năm.

Rồi bài kinh kết thúc lại với lời khẳng định: “Do ý nghĩa như thế, đây là con đường trực chỉ”.

Theo văn cảnh của bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta, kinh Niệm Xứ, chúng ta hiểu satipaṭṭhāna hay niệm xứ là ekāyano maggo, là con đường trực hướng hay trực chỉ dẫn đến sự giác ngộ trong khoảng thời gian nhất định.

↑ trở lên

TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ PĀLI “SATIPAṬṬHĀNA”

Cụm từ Pāli “Cattāro Satipaṭṭhāna” thường được hiểu là pháp Tứ Niệm Xứ, để chỉ cho niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp.

Thuật ngữ Pāli “satipaṭṭhāna” là danh từ kép của “sati” và “upaṭṭhāna” với nguyên âm u được lược bỏ khi hai danh từ trên kết hợp lại. Đây là luật hợp âm trong ngôn ngữ Pāli.

Satipaṭṭhāna = sati + upaṭṭhāna
Sati có nghĩa là niệm (mindfulness) hay tỉnh thức (awareness).
Upaṭṭhāna có nghĩa là đặt gần hay kế bên.

Vậy danh từ kép Satipaṭṭhāna chỉ cho một phương thức đặc biệt của sự hiện hữu và chú ý đến điều gì đó với niệm.
Trong các bản kinh Nikāya, động từ “upaṭṭhahati” liên quan với danh từ upaṭṭhāna thường để chỉ cho trạng thái có mặt hay mức độ chú tâm.
Hiểu theo cách phân tích trên, Satipaṭṭhāna có nghĩa là niệm đang sẵn sàng với ý nghĩa là có mặt; niệm đang hoạt động với sự chú tâm vào một tình huống cụ thể.
Như vậy, Satipaṭṭhāna có thể được dịch là sự có mặt của niệm hay sự chú tâm với niệm.
Đó là hiểu theo ý nghĩa nguyên thủy.

Tuy nhiên, các bản chú giải kinh về sau đã diễn dịch Satipaṭṭhāna theo một ý nghĩa khác. Satipaṭṭhāna về sau lại có ý nghĩa là cơ sở (foundation) hay nguyên nhân (cause) làm phát sanh lên niệm.

Để tìm hiểu vấn đề nầy, chúng ta đọc kỹ lại các bản kinh Pāli và không thấy động từ liên quan “paṭṭhahati” xuất hiện cùng với sati.
Hơn thế nữa, danh từ “paṭṭhāna” cũng không được tìm thấy trong các văn bản kinh Nikāya, mà chỉ tìm thấy nơi các văn bản chú giải mà thôi.
Trái lại, các bản kinh Nikāya thường sử dụng từ sati đi chung với động từ upaṭṭhahati, để chỉ cho sự có mặt, sự hiện hữu của niệm.
Như vậy, các văn bản chú giải đã giải thích thuật ngữ Pāli “Satipaṭṭhāna” là cơ sở cho niệm hay là nguyên nhân để tạo thành niệm, chớ không phải theo ý nghĩa ban đầu là trạng thái tâm tỉnh thức hay trạng thái tâm có mặt của thiện pháp niệm.
Đây là sự chuyển dịch ý nghĩa từ hành động cụ thể sang đối tượng cụ thể.
Trong bài kinh Saḷāyatanavibhaṅga Sutta, Trung Bộ Kinh bài số 137, Đức Thế Tôn có giảng về ba pháp satipaṭṭhāna, mà không có pháp nào liên hệ đến bốn niệm xứ như chúng ta thường nói đến.
Ở văn cảnh nầy, Đức Thế Tôn đề cập đến ba nhóm học trò khi lắng nghe thầy thuyết giảng.
Nhóm thứ nhất không chú ý lắng nghe, nhóm thứ hai thì có một số lắng nghe, còn một số chểnh mảng và nhóm học trò thứ ba thì hoàn toàn tập trung lắng nghe.
Đối với cả ba nhóm học trò trên, Đức Thế Tôn biết cách để duy trì niệm và hành xả.

Từ đó chúng ta có thể suy luận như sau.
Các bản kinh văn Nikāya đề cập đến Satipaṭṭhāna là nói đến một trạng thái tâm quân bình với sự có mặt của thiện pháp niệm, hơn là nói về đề mục hay đối tượng để phát sanh niệm.
Như vậy cần phải ghi nhận là có hai sự giải thích về thuật ngữ Pāli “Satipaṭṭhāna”.
Các bản kinh nguyên thủy giải thích Satipaṭṭhāna là trạng thái tâm đang có mặt sati hay niệm.
Còn các bản văn chú giải về sau giải thích Satipaṭṭhāna là đối tượng hay nguyên nhân để phát sanh lên tâm niệm đó.

↑ trở lên

ĐOẠN KINH VĂN ĐỊNH NGHĨA

TRONG BÀI KINH SATIPAṬṬHĀNA SUTTA

Sau phần giới thiệu khái quát bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta, kinh Niệm Xứ với chương đầu tiên: ““Khái niệm chung về con đường trực chỉ”, Bhikkhu Anālayo tiếp tục trình bày chương hai với tựa đề: “Đoạn kinh văn định nghĩa của bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta”.
Chương hai có bốn tiêu đề như sau:

1. Quán niệm
2. Tầm quan trọng của sự chuyên cần
3. Tỉnh giác
4. Niệm và sự sáng suốt

Trước hết chúng ta đọc kỹ đoạn văn “định nghĩa” ở phần mở đầu của bài kinh. Đoạn kinh văn định nghĩa xuất hiện nhiều lần trong các bản kinh Nikāya. Điều đó như một tiêu chuẩn để chúng ta định nghĩa về chánh niệm (sammā sati).
Đoạn văn mô tả phần cốt lõi của việc thực hành satipaṭṭhāna hay niệm xứ. Nó giúp cho các vị hành giả hiểu biết chính xác về kỹ năng thực hành thiền định được mô tả trong bài kinh.
Đoạn kinh văn “định nghĩa” về bốn niệm xứ bằng nguyên văn như sau:
“Này các thầy Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên niệm, để loại bỏ tham ái và sầu muộn ở đời;
sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên niệm để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời;
sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên niệm để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời;
sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên niệm để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời”.
QUÁN NIỆM (CONTEMPLATION)
Bhikkhu Anālayo trình bày chương hai của tập sách thiền niệm xứ với tiêu đề: “Contemplation”, sự quán xét sâu, quán niệm hay chiêm nghiệm.
Chúng ta hãy đọc đoạn đầu của đoạn kinh văn định nghĩa trong bài kinh Niệm Xứ, Satipaṭṭhāna Sutta.
“Này các thầy Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân”.
Thế nào là sống quán thân trên thân?
Ở đây có từ Pāli cần được phân tích: “Kāyānupassī”.
Kāyānupassī = Kāya + anupassī
Kāya có nghĩa là thân thể. Anupassī nghĩa là quan sát kỹ, quan sát chi tiết.
Kāyānupassī nghĩa là quán xét thân thể một cách chi tiết, là quán thân.
Anupassī xuất xứ từ động từ “passati”, có nghĩa là thấy; cộng thêm tiếp đầu ngữ nhấn mạnh “anu”.
Từ đó “anupassati” có nghĩa là nhìn một cách chăm chú, quan sát kỹ, hay quán niệm, chiêm nghiệm.
Tập kinh Visuddhimagga, Thanh Tịnh Đạo, giải thích “anupassati” hàm nghĩa là quan sát thật kỹ một đối tượng và quan sát đối tượng đó bằng nhiều cách khác nhau, bằng nhiều góc độ quan sát khác nhau.
Các bài kinh Nikāya thường nói về thuật ngữ “quán niệm” để mô tả pháp thiền định đặc biệt. Ví dụ như pháp niệm thân.
Cách niệm thân ở đây được hiểu là quán niệm về thân thể là vô thường (aniccānupassī, vayānupassī).
Niệm thân là quán niệm về thân thể không hề tồn tại thọ lạc lâu dài (dukkhānupassī).
Niệm thân là quán niệm về thân thể bất tịnh (asubhānupassī).
Niệm thân là quán niệm thân thể là vô ngã (anattānupassī).
Và niệm thân ở đây là hãy quan sát thân thể diễn biến theo cách tự nhiên của nó, (paṭinissāgganupassī).
Cách niệm thân như vậy nhấn mạnh cách mà đối tượng hay đề mục được chú tâm tới, được để ý tới.
Trở lại với câu kinh văn ở đầu bài: “Ở đây, vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân”.
Chúng ta hãy đọc tiếp: “Vị hành giả sống quán thân trên nội thân, hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên cả nội thân lẫn ngoại thân”.
Bản chú giải bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta diễn giải đoạn kinh trên như sau:
Nội thân có nghĩa là thân thể của chính mình. Ngoại thân là thân thể của người khác.
Như vậy, trong pháp niệm thân vị hành giả y cứ trên thân thể của chính mình hay thân thể của người khác mà quán xét hay suy niệm.
Câu kinh văn trên đã bao quát hết mọi phương diện của pháp niệm thân.
Bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta tiếp tục trình bày sự mô tả chi tiết.
Niệm thân bao gồm niệm hơi thở.
Niệm thân là niệm các oai nghi.
Niệm thân là niệm về các hoạt động của thân thể như ăn uống, tắm rửa, co tay, duỗi tay v.v….
Niệm thân là niệm các bộ phận của thân, như tóc, lông, móng, răng, da.
Niệm thân là niệm về sắc tứ đại: đất, nước, lửa, gió.
Niệm thân là niệm về tử thi.
Như vậy, bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta bắt đầu với nét đại cương của pháp niệm thân, rồi lần lần đi vào chi tiết.
Tiếp theo, đoạn kinh văn mô tả tiếp: “Vị hành giả sống quán sự sanh khởi trên thân, hay sống quán sự hoại diệt trên thân, hay sống quán sự sanh khởi và hoại diệt trên thân”.
Ở đây, vị hành giả hướng sự chú ý đến bản chất của thân nầy là vô thường, sự thay đổi liên tục.
Tóm lại, căn bản của pháp niệm thân trên cơ sở là thân thể của chính mình hay thân thể của người khác.
Vị hành giả hướng sự chú tâm đến sự thay đổi, sự biến hoại trên mọi phương diện của cơ thể, từ hơi thở cho đến các oai nghi, các hoạt động hằng ngày, các thành phần của cơ thể, sắc tứ đại, và cả tử thi.
Theo các bản chú giải, sự lập đi và lập lại của đối tượng quán niệm là để nhấn mạnh các đối tượng đó đơn thuần chỉ là sự phản ánh qua sáu căn của hành giả. Các đối tượng đó không có liên quan gì đến “tôi” hay “của tôi”.
Điều chúng ta cần lưu ý là pháp quán thân trên thân luôn nêu bật tầm quan trọng của kinh nghiệm trực tiếp, hơn là sự suy diễn trong tâm của vị hành giả.
Chúng ta hãy để cho thân thể tự nói lên tất cả những gì nó muốn nói, và hiển bày bản chất thật sự của thân thể.
Còn vị hành giả chỉ là người quan sát khách quan!

↑ trở lên

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ CHUYÊN CẦN

Nơi đoạn mở đầu bài kinh Satipaṭṭhāna Sutta, đoạn kinh văn định nghĩa về pháp niệm thân như sau:
“Này các thầy Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên niệm, để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời”.
Chúng ta đã hiểu ý nghĩa của cụm từ: “Ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân”.
Hôm nay, chúng ta tìm hiểu tiếp phần định nghĩa còn lại: “nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên niệm, để loại bỏ tham ái và sân hận ở đời”.
Theo phần định nghĩa trên, sự thực tập niệm xứ hay satipaṭṭhāna đòi hỏi sự tu tập bốn năng lực tinh thần.
Đó là tinh tấn, trí tuệ, niệm, và định. Nhiệt tâm là tinh tấn. Tỉnh giác là trí huệ. Chuyên niệm chính là niệm.
Và loại bỏ tham ái và sân hận ở đời là định.
Chúng ta tìm hiểu phẩm chất đầu tiên trong bốn phẩm chất trên là sự siêng năng hay chuyên cần.
Chuyên cần hay siêng năng có từ Pāli là Ātāpī.
Ātāpī có liên hệ đến từ Tapas, có nghĩa là sự thực hành khổ hạnh của các đạo sĩ ngoại đạo.
Điều nầy có thể làm chúng ta ngạc nhiên, bởi vì Đức Thế Tôn đã giảng dạy pháp tu khổ hạnh không dẫn đến chứng đắc Niết Bàn.
Để hiểu rõ điểm nầy, chúng ta hãy trở lại tìm hiểu bối cảnh lịch sử Ấn Độ vào thời kỳ của Đức Thế Tôn.
Như chúng ta đã biết, một số lượng lớn các du sĩ ngoại đạo thời cổ đại Ấn Độ quan niệm khổ hạnh là sự thực hành lý tưởng cho việc thanh tịnh tâm linh.
Các tu sĩ đạo Jain, các du sĩ Ājīvika còn cho rằng tự tử là cách thực hành lý tưởng để đi đến giác ngộ.
Các đạo sĩ khổ hạnh thường xuyên tuyệt thực, ở giữa trời với cái nóng hay cái lạnh khắc nghiệt nhất, đứng hoặc ngồi trên bàn chông để chịu đựng những cảm giác đau đớn khốc liệt nhất.
Đức Thế Tôn thẳng thắn bác bỏ quan điểm cho rằng khổ hạnh là điều cần thiết để đạt tới giác ngộ. Khi còn là Bồ Tát, Ngài đã thực hành pháp khổ hạnh ở mức độ cao nhất, nhưng không thể thành đạo vì khổ hạnh hoàn toàn thiếu vắng thiện pháp trí huệ.
Sau cùng Ngài hiểu ra rằng giác ngộ không tùy thuộc vào khổ hạnh. Nhưng để thành đạt giác ngộ, vị hành giả phải phát triển các năng lực tinh thần ở mức độ cao nhất.
Một trong những năng lực tinh thần hết sức cần thiết đó là nhiệt tâm hay “Ātāpī”.
Về sau, cách thức khổ hạnh mà Đức Thế Tôn thường nói đến trong Giáo Pháp của Ngài chính là các năng lực tinh thần được huân tập để chế ngự, khắc chế các thói quen xấu, các tâm lý bất thiện.
Một điểm khác nữa cần phải lưu ý. Vào cùng thời đại của Đức Thế Tôn, có nhiều quan điểm sai lầm rất thịnh hành. Chẳng hạn như quan điểm về thuyết định mệnh.
Các ngoại đạo sư chủ trương thuyết định mệnh cho rằng tất cả mọi việc đều đã được an bài, sắp đặt hết bởi một đấng tối cao. Sự cố gắng của con người trong đời sống chỉ là điều vô ích!
Bác bỏ quan điểm sai lầm trên, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng cố gắng hay chuyên cần là điều kiện không thể thiếu để thành đạt giác ngộ và giải thoát.
Chỉ thông qua nguyện vọng, sự chuyên cần, và chuyên tâm trau dồi các năng lực tinh thần, Niết Bàn mới có thể thành đạt.
Chúng ta đọc lại câu kinh văn có nhiều ý nghĩa: “Ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm”.
Nhiệt tâm ở đây là sự nỗ lực bất thối chuyển của vị hành giả thực hành thiền định.
Một đoạn kinh văn trong Nikāya mô tả sự quyết tâm của Bồ Tát trước khi thành đạo là: “Dầu cho máu thịt có khô cạn đi chăng nữa, ta nhất quyết không rời bỏ sự tu tập”.
Hay là: “Ta sẽ không rời khỏi tư thế ngồi nầy cho đến khi thành đạt sự giác ngộ”. Các lời kinh trên diễn tả ý chí sắt đá của Bồ Tát Sĩ Đạt Ta trong đêm thành đạo.
Lòng quyết tâm hay sự nỗ lực bất thối chuyển như vậy được hiểu là Ātāpī hay đức tánh chuyên cần trong đạo Phật.
Thêm một ý mới, bài kinh Kāyagatāsati Sutta, Trung Bộ Kinh bài số 119, diễn tả sự chuyên cần hay Ātāpī luôn gắn liền với cảm giác hỷ lạc của thiền định.
Tương tự, một đoạn kinh trong Phẩm Indriya Saṃyutta, Tương Ưng Bộ Kinh, ghi lại sự chuyên cần không bao giờ tách rời thọ lạc, có mặt nơi thân lẫn nơi tâm.
Từ đó, chúng ta thấy khái niệm Ātāpī không còn liên hệ ý nghĩa đến pháp tu khổ hạnh hay sự chịu đựng các cảm giác đau đớn của hàng ngoại đạo.
Một điều rõ ràng là thiếu vắng sự cố gắng hoặc cố gắng quá mức luôn gây ra trở ngại lớn cho sự tiến bộ tâm linh.
Đức tánh chuyên cần trong Phật giáo được hiểu là sự cố gắng đúng lúc, đúng thời và tinh tấn một cách hài hòa, quân bình.
Một lần nọ, Đức Thế Tôn đã giảng dạy sự nỗ lực một cách thích hợp và quân bình luôn cần thiết cho sự tu tập, cũng giống như người nhạc công sẽ điều chỉnh một dây đàn không quá căng mà cũng không quá chùng.
Luôn luôn là như vậy! Vị hành giả tu tập không nên căng thẳng quá mức mà cũng không quá chểnh mảng, quá dễ duôi.
Con đường trung đạo (majjhimā-paṭipadā) là từ bỏ sự cố gắng thái quá cũng như sự lười biếng quá mức. Đây là một trong những lời dạy trọng tâm của Đức Thế Tôn.
Hiểu về Ātāpī có nghĩa là ngay từ bây giờ là lúc các vị hành giả phải thực hành thiền định một cách chuyên tâm và phải tự thực hành với sự nỗ lực miên mật.
Lời dạy trên thường để mô tả về một vị hành giả Tỳ Kheo sau khi học một đề mục thiền định từ nơi Đức Thế Tôn đã tìm về nơi độc cư thanh vắng để thực hành thiền định một cách rốt ráo.

↑ trở lên


Bài giảng

  • Rằm Tháng hai
  • Kinh Con Rắn
  • Rằm Tháng Ba
  • Kinh Dhaniya
  • Đại Lễ Vesak 2566
  • Kinh Tê Giác
  • Tứ Niệm Xứ
  • Rằm Tháng Năm
  • Rằm Tháng Sáu
  • Rằm Tháng Bảy
  • Rằm Tháng Tám
  • Kinh Kasi Bharadvaja
  • Rằm Tháng Chín
  • Rằm Tháng Mười
  • Rằm tháng Mười Một
  • Kinh Bāhiya
  • Rằm tháng Chạp
  • Rằm Tháng Giêng
  • Kinh Từ Bi (Metta Sutta)
  • Kinh Đại Niệm Xứ
  • Rằm Tháng Hai (2)
  • Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)
  • Rằm Tháng Ba (2)
  • Lễ Vesak 2567
  • Rằm Tháng Năm (2)
  • Chuyện thành Vesāli
  • Kinh Hạnh Phúc
  • Rằm Tháng Sáu
  • Rằm Tháng Bảy
  • Rằm Tháng Tám
  • Rằm Tháng Chín
  • Kinh Āḷavaka
  • Kinh Dhammika
  • Kinh Pabbajjā
  • Padhāna sutta
  • Kinh Subhāsita
  • Lộ trình Tâm Thức
  • Kinh Rāhula
  • Bản PDF


    Pāli


    English


    → Sơ đồ & Hình ảnh tóm lược


    Sưu tầm & Ghi chú


    © www.phapbaotu.com